Bài Viết Lịch sử

Bi kịch lịch sử

Ngô Nhân Dụng

Sử gia Phan Huy Lê viết về Phan Thanh Giản dưới tựa đề “... Bi kịch lịch sử”. Có thể mượn mấy chữ đó để mô tả những vụ “đấu tố” Phan Thanh Giản diễn ra ở miền Bắc Việt Nam từ thập niên 1960, và những cố gắng phục hồi danh giá của nhà Nho tuẫn quốc đó trong mươi năm gần đây. Ðó mới là một bi kịch lịch sử và bi kịch về sử học, thứ thiệt.

Câu hỏi là: Sử học làm việc gì? Nhiệm vụ đầu tiên của nhà nghiên cứu sử học là tìm hiểu rõ các việc xẩy ra trong quá khứ; nếu có thể thì tìm cách giải thích các biến cố này bằng những sự kiện, biến cố khác. Công việc của nhà sử học không nhất thiết phải là phê phán các nhân vật lịch sử, dù họ được tự do làm việc đó nếu muốn. Những lời phê phán có sắc bén đến mấy mà không dựa trên những sự kiện lịch sử đáng tin cậy thì cũng không làm cho một nhà sử học có giá trị thêm. Ngược lại, một sử gia tìm tòi được những chứng tích lịch sử mới, nối kết được các sự kiện rời rạc thành một số hiểu biết có đầu đuôi, thì không cần đưa ra một lời nhận xét, phê phán nào về các nhân vật lịch sử, sử gia đó vẫn đáng kính trọng. Khi một sử gia coi việc đánh giá lịch sử là việc chính, mà lại đánh giá theo một khuynh hướng đã được quyết định trước, thì người đó đã làm sai nhiệm vụ của mình. Khi người ta muốn chứng minh một hành động nào đó trong lịch sử là tốt hay là xấu đối với xã hội, với đất nước, thì việc đi tìm các chứng cớ để biện minh cho lời phê phán của mình không phải là việc khó khăn lắm. Ðiều đó đúng, không những với các nhân vật lịch sử, mà đúng cả với người đương thời. Những ông, bà biện lý bao giờ cũng có thể tìm ra các bằng chứng để kết tội nghi can, cứ có thời giờ là tìm được. Trong tòa án ở các nước tự do, người ta không để cho phe công tố độc quyền biện luận cho các quan tòa nghe, mà đòi phải có các luật sư đứng về phía bênh vực cho bị cáo, chính vì chúng ta biết rằng muốn kết tội một người bị nghi ngờ không phải là chuyện khó khăn. Cho nên phải có những người làm công việc đi tìm các bằng cớ để chứng minh ngược lại.

Ở miền Bắc Việt Nam trong thời nội chiến vừa qua, nhiều sử gia đã đứng ra đóng vai trò công tố đối với nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, đem ông ra trước “tòa án nhân dân” xử, theo mệnh lệnh của đảng Cộng Sản. Ông biện lý cao cấp nhất là Trần Huy Liệu, làm chức Viện trưởng và được Viện Sử học phong làm người “Anh Cả,” như trong đình làng có chiếu trên, chiếu dưới. Tuy nhiên, trong cái đình làng ở Hà Nội thời đó thì cái chiếu của Viện Sử học được trải ra ở chỗ thấp bậc nhất, cho nên người “Anh Cả” của các sử gia cũng chỉ líu ríu nghe theo cấp trên để giữ được phần xôi của mình. Một người chuyên môn nghề tuyên truyền mà đi làm công việc bôi nhọ lịch sử cũng là việc không khó khăn.

Công việc tuyên truyền khác với công việc của khoa học về lịch sử. Sử gia có thể đưa ra những cách giải thích các biến cố lịch sử, do đó mà phê phán các nhân vật. Nhưng phải thực hiện điều đó trong tinh thần khoa học. Một đặc điểm của phương pháp khoa học, như Karl Popper đã nêu lên từ thế kỷ trước, là người ta phải đưa ra các giả thuyết có thể được đem ra thử thách bằng các dữ kiện có thể quan sát được. Giả thuyết khoa học phải có tính “khả dĩ phủ nhận”, falsifiability; chứ không phải là những giả thuyết khả dĩ xác minh, verifiability. Nhà biện lý làm việc theo phương pháp khác, bắt đầu làm việc với giả thuyết “nghi can có tội”, rồi tìm các chứng cớ để xác định lời buộc tội là phù hợp. Các sử gia Mác-xít đã kết tội nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản rồi đi tìm bất cứ mẩu chứng cớ nào để kết tội, chẳng hạn những câu “Phan, Lâm mãi quốc” lưu truyền trong dân gian. Nếu người ta cũng đi tìm các câu lưu truyền trong dân gian nói về nhân vật Hồ Chí Minh thì còn dễ kết tội ông hơn là đấu tố Phan Thanh Giản.

Nhưng tại sao họ phải đấu tố Phan Thanh Giản? Như chúng ta có thể hiểu được, lúc đó ông Liệu mở tòa án nhân dân đấu tố Phan Thanh Giản chỉ vì ông được Đảng Cộng sản ra chỉ thị, theo nhu cầu chính trị nhất thời là phải tấn công miền Nam, tấn công thẳng vào một khuôn mặt sĩ phu lớn nhất vốn được người miền Nam kính ngưỡng. Cuộc đấu tố Phan Thanh Giản cũng nhắm tấn công một số người ở miền Bắc có chủ trương ôn hòa, không muốn đánh miền Nam. Những người chủ chiến muốn bôi nhọ Phan Thanh Giản vì cụ đã bị coi là chủ trương hòa hoãn với quân Pháp để chờ thời, khi biết nước mình không đủ thực lực để chống cự. Ðấu tố cụ Phan cũng là một cách giằn mặt những người trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng Cộng sản lúc đó nhưng không thấy việc xâm nhập để phá hoại miền Nam là điều cần thiết. Sau các chiến dịch kết án Phan Thanh Giản, chắc hẳn những người bị coi là phe “chủ hòa” phải im lặng. Những nhà sử học không đồng ý với cảnh đấu tố cũng phải im lặng.

Nhưng khi chúng ta giải thích việc đấu tố Phan Thanh Giản bằng nhu cầu chiến tranh thì đó cũng chỉ là lý do nổi trên bề mặt mà thôi. Nước Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh kể cả nội chiến, nhưng không phải bao giờ cũng đem các nhân vật lịch sử ra làm bung xung để đập theo nhu cầu chiến thuật. Có thời cả nước ta đã phải chống lại những cuộc xâm lăng của người phương Bắc nhưng không triều đại nào đem các tượng Quan Vũ ra phá, mà ai cũng vẫn coi Nhạc Phi là bậc trung nghĩa đáng phục. Các vị chúa họ Trịnh, họ Nguyễn cũng không đem tổ tiên, ông bà của phe bên địch ra bêu riếu, không ai đụng tới mồ mả tiền nhân của bên kia. Hành động bêu riếu một nhân vật lịch sử theo nhu cầu chính trị giai đoạn bắt đầu từ lúc thi hành chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Nếu không phải một chế độ cộng sản thì không triều đại nào dùng lịch sử vào mục tiêu chính trị một cách có hệ thống như vậy.

Chế độ cộng sản có tính cách toàn trị, như các chế độ thần quyền. Khởi đầu, họ tự nhận là một chủ nghĩa khoa học, theo cái nghĩa thô thiển nhất của hai chữ này. Họ tuyên dương một cách nhìn thế giới theo lối “khoa học” của họ, đem áp dụng vào việc xếp đặt cách ăn ở trong xã hội loài người. Marx tiên đoán xã hội loài người sẽ đi qua một trình tự nhiều giai đoạn. Lenin với Stalin muốn đưa xã hội chung quanh họ bước ngay sang giai đoạn sắp tới của lịch sử nhân loại, không cần theo đúng trình tự mà Marx mô tả. Muốn lôi kéo người ta đi theo giấc mộng đó thì chỉ có cách là biến phong trào quần chúng của mình thành một tôn giáo muốn biến đổi loài người theo hình ảnh một thiên đường. Nhưng đồng thời họ cũng phát động một phong trào cách mạng, lập một đảng chính trị và khi bắt tay vào việc cai trị thì buộc mọi người dân coi cách xếp đặt đời sống mà họ đặt ra có giá trị thiêng liêng như một tôn giáo. Trong một tổ chức thần quyền như thế, không có chỗ đứng cho những tư tưởng dị giáo.

Những người học theo chủ nghĩa Marx tập được thói quen muốn giải thích tất cả mọi việc trên thế gian theo cùng một mớ kiến thức căn bản mà Stalin đã tóm tắt trong các sách giáo khoa về Lịch sử Đảng Cộng sản. Trong việc cai trị quốc gia thì họ muốn cả xã hội phải theo cùng một thứ nền nếp do đảng và nhà nước đặt ra. Không có chỗ nào cho một Xã hội Công dân. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, giải trí cũng phải gò theo quy thức chung một cách chặt chẽ. Chủ nghĩa cộng sản không phân biệt phạm vi xã hội với phạm vi chính trị. Cho nên chính trị chi phối tất cả các hoạt động trong xã hội, dù là những hoạt động nhỏ bé gồm hai, ba người với nhau. Muốn lập một nhóm ca hát, một đội banh hay nhóm chơi hoa lan cũng phải được một ông, bà bí thư nào đó duyệt xét. Ngay cả việc dựng vợ gả chồng người ta cũng muốn xã hội phải can thiệp vào cho đúng đường lối. Và tất nhiên, môn học lịch sử phải đồng nhất, rập khuôn theo cùng một lối. Các nhà lãnh tụ cộng sản coi việc sửa chữa sách vở, chứng tích theo nhu cầu giai đoạn là chuyện tự nhiên, vì tất cả đều là phương tiện.

Chính trong trạng thái tinh thần đó mà các nhà sử học ở nước ta đã bị gò ép phải viết lại lịch sử theo nhu cầu của từng giai đoạn. Chuyện phê phán Phan Thanh Giản chỉ là một thí dụ nhỏ. Tất cả các sách vở viết về liên hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trong vài ngàn năm cũng phải thay đổi theo nhu cầu chính trị từng thời. Có lúc các sử gia và các nhà văn, nhà thơ phải cùng viết về một đề tài: Phong kiến Trung Quốc xâm lược. Rồi tới một giai đoạn sau thì tất cả những cuốn sách đó lại biến mất.

Câu hỏi quan trọng thứ hai nên đặt ra là: tại sao các sử gia lại ngoan ngoãn vâng lệnh như vậy? Giải thích bằng nhu cầu miếng cơm manh áo cũng đúng nhưng chưa đủ. Tất nhiên trong một chế độ mà nhà nước quản lý hạt cơm, manh áo của từng người và không ai thấy một khoảng trống “tư” nào để lách ra thì nhiều nhà sử học cũng đành phải sản xuất theo dự án nhà nước. Nhưng ngay cả khi một số kẽ hở được hé ra, có những khoảng trống riêng tư cho người ta trú ẩn, vẫn có những người tiếp tục muốn tiếp tục sống và làm việc theo chỉ thị. Sau hai ba hội nghị về Phan Thanh Giản, nhất là ở các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre đã nêu lên các ý kiến bênh vực Phan Thanh Giản, trong một cuộc hội thảo ở thành phố Sài Gòn vẫn còn nhiều người nhắc lại những câu “Phan Lâm mãi quốc, Triều đình khí dân” như là chân lý không thể chối cãi được. Ông chủ tịch tỉnh Bến Tre đến hội nghị rồi chán ngán bỏ ra ngoài.

Tại sao có những người trí thức vẫn không dám suy nghĩ độc lập, từ chối đường lối của chính thức của đảng? Hiện tượng này cũng giống như tình trạng xẩy ra nơi các nhà văn và nhà phê bình văn nghệ. Phạm Thị Hoài đã mô tả “một lăng kính nghệ thuật sơ lược và méo mó mà cho đến nay tiếp tục là lăng kính nghệ thuật chủ đạo của nhiều người hơn ta tưởng.” Ðó là thời văn nghệ “hậu đổi mới” mà theo Phạm Thị Hoài thấy là “thời của những khoảng trống kì lạ của những thẩm quyền không có mặt, của những toa tầu không có đầu máy và (không) người lái.” Không còn uy tín chính thống nữa, nhưng cũng không còn uy quyền nào phản bác cái chính thống đó. Tại sao các người làm văn hóa lại “nhát” đến như vậy?

Có một cách giải thích tình trạng này là dùng hiện tượng “tập khí tuyệt vọng.” Tính tuyệt vọng được huấn luyện lâu ngày mà có, tiếng Anh trong khoa Tâm lý học gọi là “Learned Helplessness.” Khi người ta đã tập được thói quen sống trong tuyệt vọng thì họ chấp nhận mình vô giá trị, có cố gắng cũng chẳng thay đổi được cái gì, thà rằng chấp nhận số phận cho yên thân.

Hồi đầu thập kỷ 1970 giáo sư Martin Seligman ở Ðại học Pennsylvania đã đặt ra từ này sau những cuộc thí nghiệm về tập khí của những con chó, rồi có người đem thí nghiệm với chuột và người. Người ta cho điện giật một số con chó, và chúng có thể nhẩy qua hàng rào để thoát. Một số con chó khác thì không thể nào thoát được, chạy đâu cũng vẫn bị điện giật. Sau một thời gian thí nghiệm, lập đi lập lại như vậy thì những con chó chạy không thoát đã tập được thói quen là chịu đựng, không tìm cách chống đối hay chạy trốn số phận tuyệt vọng của chúng nữa. Có hàng ngàn cuộc thí nghiệm về hiện tượng tâm lý này, ngoài ra có cả những thí nghiệm dành cho các nhóm người hành động chung. Ba nhóm được đưa vào hoàn cảnh bị tiếng ồn rất khó chịu và họ tìm ra cách phối hợp các hành động để chấm dứt các tiếng động đó. Có nhóm thì sau khi thử đã tìm ra cách nhấn nút kẻ trước người sau theo một trình tự nào đó thì tiếng động ngưng. Có nhóm thì dù thử cách nào cũng vô hiệu quả, tiếng động tiếp tục hay ngừng một cách độc lập. Còn một nhóm thứ ba thì không nghe tiếng động nào hết nhưng được tập nhấn các nút theo trình tự phối hợp với nhau. Sau, người ta đem các người ở những nhóm khác nhau cho thí nghiệm chung, kết quả là những người ở nhóm vô vọng trở thành vụng về kém cỏi nhất trong hành động tập thể để tránh nghe tiếng động.

Có thể nói là nhiều nhà trí thức, người làm văn nghệ cũng như người nghiên cứu sử học ở nước ta đã lâm vào tình trạng “tập khí tuyệt vọng” đó. Họ cần phải tập sống tự do lâu rồi mới tập được thói quen suy nghĩ độc lập.

Các phiên tòa án nhân dân kết tội Phan Thanh Giản đã chấm dứt từ lâu. Ðiều đáng lo là nhiều người thấy Đảng Cộng sản bắt đầu “đánh giá lại” Phan Thanh Giản thì cũng cúi đầu chạy theo trào lưu mới. Cụ Phan Thanh Giản không cần đời sau đánh giá. Chúng ta chỉ cần nghe Nguyễn Ðình Chiểu đánh giá cũng biết lòng người dân miền Nam thời đó nghĩ gì. Mà gia đình, con cháu cụ Phan cũng không phải lo giải tỏa mặc cảm. Lúc ở Sài Gòn mỗi lần đến nhà Luật sư Phan Thanh Hy tôi vẫn thấy ông treo tấm hình Phan Thanh Giản mặc triều phục với lòng hãnh diện. Những người cần giải tỏa mặc cảm chính là các sử gia và giới trí thức ở nước ta.


Nguồn: Tạp chí Thế kỉ 21, số 185 (số đặc biệt về Phan Thanh Giản), tháng 9.2004

**********************************************************************
Tư liệu :

Trần Huy Liệu

Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan-Thanh-Giản


Cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn kế tiếp nhận được những bài của các bạn đọc gửi đến phê phán về Phan-thanh-Giản, nhưng những tài liệu và ý kiến cũng không có gì khác với những bài đã đăng. Chúng tôi rất hoan nghênh các bạn đã sốt sắng tham gia cuộc khảo luận, đặc biệt là những ý kiến đều hầu như nhất trí cả. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cuộc bình luận về Phan-thanh-Giản đến đây là kết thúc và chúng tôi đăng bài sau đây của đồng chí Trần-huy-Liệu có tính cách như một bài tổng kết.

Tòa soạn NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ



Từ khi Tạp chí Nghiên cứu lịch sử đề ra việc bình luận một số nhân vật lịch sử, qua Hồ-quý-Ly, Nguyễn-trường-Tộ, Lưu-vĩnh-Phúc cho đến Phan-thanh-Giản, không lần nào bằng lần này, những bạn tham gia cuộc thảo luận, mặc dầu có những khía cạnh khác nhau, nhưng về căn bản đều nhất trí ở chỗ kết án tội nhân của lịch sử. Trong những bài mà chúng tôi nhận được, có bài đăng nguyên văn, có bài trích đăng và một số bài xin miễn đăng, nhưng nhiều tác giả đã có những dẫn chứng giống nhau và hòa chung một thứ tiếng cáo giác người đã đóng vai “tích cực” trong việc làm mất ba tỉnh miền Ðông Nam-kỳ và sau đó là ba tỉnh miền Tây Nam-kỳ. Ðiều đáng chú ý là: trong quá trình thảo luận, hai bạn Chương-Thâu và Ðặng-huy-Vận, trong chỗ không ngờ, đã trở nên “đối tượng” cho một loạt súng bắn vào chỉ vì hai bạn còn có chỗ chưa “dứt khoát” về tình cảm với họ Phan! Một điều nữa cũng đáng chú ý là: trong số người gửi bài tới tham gia thảo luận lên án Phan-thanh-Giản có đông đủ cả các bạn miền Bắc và miền Nam. Thì ra, nếu chúng ta xuất phát từ một lập trường giống nhau thì chúng ta sẽ đi tới một kết luận giống nhau. Cuộc thảo luận này đã chứng minh như vậy.

Là một người viết bài cuối cùng, tôi còn phải nói gì thêm nữa? Tôi không muốn nhắc lại những tài liệu mà các bạn đã dẫn ra và những ý kiến mà các bạn đã phát biểu; mà qua cuộc thảo luận, tôi muốn đề ra một vài nét lớn trong những điểm nhận định chung.

Ðiều thứ nhất mà chúng tôi nhận thấy là: Trong khi bình luận một nhân vật lịch sử nào, chúng ta phải đặt người ấy vào hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Chúng ta không đòi hỏi những người sống xa thời đại chúng ta, không cùng một giai cấp với chúng ta, cũng phải có một lập trường tư tưởng như chúng ta. Nhưng để đánh giá họ, chúng ta chỉ cần xem tư tưởng và hành động của họ có phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân đương thời không? Có theo chiều hướng tiến lên của thời đại không? Ðối với Phan-thanh-Giản hồi ấy, chúng ta không đòi Phan phải thoát ly ý-thức-hệ của giai cấp phong kiến. Nhưng trong khi những nhân sĩ yêu nước trong giai cấp phong kiến và đông đảo nhân dân kiên quyết đánh Tây để giữ lấy nước, thà chết không làm nô lệ thì Phan trước sau vẫn theo chiều hướng đầu hàng, từ ký nhượng ba tỉnh miền Ðông đến ký nhượng ba tỉnh miền Tây. Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân. Tuy vậy, trong số các bạn tham gia thảo luận, vẫn còn có bạn không phủ nhận tội lỗi của Phan, nhưng vẫn muốn “giảm nhẹ tội cho Phan một bậc” [1] . Trước tòa án lịch sử, vị “trạng sư bất đắc dĩ” ấy viện cớ rằng: chủ trương đầu hàng không phải riêng gì họ Phan, mà là cả giai cấp phong kiến nói chung, mà người đứng đầu là vua Tự-đức, cũng như Nam-kỳ và toàn bộ đất nước bị mất vào tay giặc Pháp còn vì nhiều duyên cớ khác, đâu phải chỉ vì mấy chữ ký của Phan-thanh-Giản. Vậy chúng ta có muốn kết án thì phải kết án giai cấp phong kiến mà thủ phạm phải là Tự-đức. Còn Phan-thanh-Giản chỉ là tòng phạm thôi.

Lời bào chữa của vị “trạng sư” kể trên có lý không, có đứng vững được không? Chúng ta không phủ nhận giai cấp phong kiến nhà Nguyễn hồi ấy đã hết sứ mạng lịch sử và đương đi theo chiều hướng thỏa hiệp và đầu hàng. Nhưng một sự thực mà chúng ta không được phép chối cãi là: trên bước đường phân hóa, chính trong giai cấp phong kiến lúc ấy cũng còn có phái chủ chiến và phái chủ hòa (nghĩa là phái đầu hàng). Chưa nói đến sự cơ lúc ấy: giặc Pháp mới để chân đến Nam-kỳ, các tầng lớp nhân dân đương hăng hái đánh giặc cứu nước; mà ngay chính Tự-đức, một tên vua phải đứng “trước vành móng ngựa” về tội làm mất nước ta, cũng từ chỗ lưng chừng đến chỗ đầu hàng, chớ chưa phải đã can tâm dâng nước cho giặc ngay từ đầu. Nếu ngày nay, trước từng sự kiện lịch sử phải tìm ra trách nhiệm, cái gì cũng đổ chung cho giai cấp phong kiến theo lối “hầm bà là” cả, vậy thì thế nào để phân biệt những người yêu Tổ quốc, theo chính nghĩa, giết giặc cứu nước với những kẻ hàng giặc dâng nước cho giặc? Làm thế nào để phân biệt những người giữ thành chết theo thành như Nguyễn-tri-Phương, Hoàng-Diệu, Nguyễn-thúc-Nhận v.v... với những người dâng thành hiến đất cho giặc theo kiểu Phan-thanh-Giản? Không. Chưa nói đến bản án lịch sử muôn đời; dư luận nhân dân đương thời biểu hiện trong tám chữ đề cờ của dân quân Tân-an Gò-công mà thủ lĩnh là Trương-Ðịnh cũng đã rõ ràng lắm. Nó kết án giai cấp phong kiến mà triều đình Huế là đại diện đã “bỏ dân” và kẻ trực tiếp phụ trách là Phan-thanh-Giản, Lâm-duy-Hiệp đã ký nhượng đất nước cho giặc. Dư luận nhân dân rất sáng suốt cũng như bản án rất công minh. Nếu vị “trạng sư” nào còn muốn bào chữa cho một bị cáo đã bị bắt quả tang từ non một trăm năm trước thì chỉ là tốn công vô ích!

Nói cùng mà nghe, ngay đến Tự-đức, một người đứng đầu trong hàng ghế bị cáo, đã có than: “Theo họ thì có nước như không, đã chịu nhục mà đời đời bị vạ...” và khi nghe tin Phan-thanh-Giản, Lâm-duy-Hiệp ký nhượng ba tỉnh miền Ðông, đã phải nói: “hai tên kia không những là tội nhân của bản triều, mà còn là tội nhân của thiên cổ”... Thì ra, trên bước đường đầu hàng của giai cấp phong kiến nói chung, Phan-thanh-Giản còn bước mau, bước trước hơn Tự-đức và trước dư luận phẫn khích của nhân dân, Tự-đức cũng không dám thốt ra những câu nói ngược lại ý chí của họ. Như vậy, trong giai đoạn đau thương của Tổ quốc, kẻ làm mất nước ta là bọn phong kiến đầu hàng mà đứng đầu là Tự-đức. Nhưng trước từng sự kiện lịch sử, mỗi người lại có trách nhiệm riêng tùy theo cương vị của mình. Vị trạng sư nào ngụy biện đến đâu cũng không thể lập luận hồ đồ, đem giai cấp phong kiến và Tự-đức làm cái “bung xung” để che giấu tội lỗi của Phan-thanh-Giản đã dâng toàn bộ lục tỉnh Nam-kỳ cho giặc được!

Ðiều thứ hai mà chúng tôi nhận thấy là: trong khi quy định trách nhiệm của Phan-thanh-Giản trước lịch sử, chúng ta đã phân tích rõ ràng với những án từ phân minh. Tuy vậy, còn có người viện những đức tính liêm khiết của Phan ra để mong được “chiếu cố” và “thông cảm”. Cũng có người còn cho Phan là một nhà ái quốc và thức thời, chỉ vì thương dân, muốn tránh nạn binh đao nên đã chủ trương hòa hiếu với giặc. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại điều kiện chủ quan và khách quan bấy giờ để chứng minh rằng: nếu vua tôi nhà Nguyễn biết dựa vào nhân dân để kiên quyết kháng chiến thì nước ta hồi ấy sẽ không bị mất; tôi chỉ nhấn mạnh vào cái quan niệm về đạo đức tư cách của con người thế nào cho đúng. Những người có lòng chiếu cố đến Phan-thanh-Giản chỉ mới nhìn vào tư đức của ông mà không nhìn vào công đức của ông. Ở vào thời thế nước ta hồi ấy, mỗi người công dân còn có cái đạo đức nào cao hơn là yêu nước thù giặc, hy sinh quên mình, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trái lại, còn có cái gì xấu hơn là theo giặc, chống lại cách mạng, phản lại quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Ðối với Phan-thanh-Giản, công đức như thế là đã bại hoại rồi; mà công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể? Trong số các bạn tham gia thảo luận, có bạn còn viện những chứng cớ tỏ ra rằng ngay cả đến tư đức của ông cũng không có gì đảm bảo. Nói thế thôi. Ðiều này không quan trọng lắm. Chúng ta đánh giá con người của Phan không phải nhìn vào những đức tính thông thường, mà chính là nhìn vào tiêu chuẩn đối với dân, với nước của Phan.

Ở đây còn một điểm phải trang trải nữa là Phan có yêu nước không? Những người thương Phan còn có cắt nghĩa rằng: Phan chủ trương sai lầm nhưng không phải không có lòng yêu nước. Thực ra, yêu nước không phải là một danh từ trừu tượng, mà phải biểu hiện một cách cụ thể. Trong lúc quân giặc bắt đầu dày xéo lên Tổ quốc, bao nhiêu văn thân nghĩa sĩ, hào lý cùng các tầng lớp nhân dân đều lao mình vào cuộc giết giặc cứu nước, bài phú “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh” vang lên, vậy mà riêng Phan-thanh-Giản ba lần dụ Trương-Ðịnh bãi binh, bốn lần làm môi giới cho Pháp đưa thư của giặc cho Trương và khuyên nhân dân không nên “bội nghịch” với giặc, vậy chúng ta có thể tặng hai chữ yêu nước cho Phan cả về mặt khách quan lẫn chủ quan được không? Phạm vi “yêu nước” cũng rất rộng, nhưng danh từ ái quốc không thể chứa một nội dung phản quốc. Một người đã có “thành tích” như Phan, dù ai muốn nhìn theo cách nào chăng nữa, cũng không thể lạm dụng hai chữ ái quốc để gắn vào một cách dễ dàng, vì như thế chẳng những hồ đồ trong việc nhận thức Phan mà còn làm nhòa nhoẹt cả ý nghĩa yêu nước nữa.
Ðiểm thứ ba mà tôi muốn nhấn mạnh vào là cái chết của Phan. Thật ra, với những hành động kể trên, nếu Phan không kết thúc bằng một cái chết khá “đặc biệt” thì có lẽ dư luận đối với Phan cũng không có gì phức tạp lắm vì hành động của Phan đủ nói lên Phan là người như thế nào rồi. Theo tôi, chủ trương của Phan đã dẫn Phan đến chỗ bế tắc mà chỉ có thể kết cục bằng một cái chết. Nói một cách khác, cái chết của Phan là tất nhiên, là rất biện chứng trong chỗ bế tắc của Phan. Tuy vậy, có người vẫn ca tụng Phan là không tham sống sợ chết. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại những cái “ngoắt ngoéo” trong giờ phút cuối của Phan mà nhiều bạn đã vạch ra để chứng tỏ là Phan không phải không tham sống sợ chết. Tôi chỉ đặt câu hỏi là: có những trang hào kiệt không tham sống sợ chết để làm nên một việc gì tốt đẹp thì cái tham sống sợ chết ấy mới có ý nghĩa; còn Phan-thanh-Giản nếu quả có không tham sống sợ chết chăng nữa thì để làm nên cái gì? Nói rằng Phan chết để giữ trọn tiết nghĩa chăng? Thì cái sống của Phan đối với dân, với nước đã mất hết tiết nghĩa rồi, còn nói gì đến chết. Nói rằng Phan là một tín đồ chăng? Thực ra, cái chết của Phan, khác với cái hy sinh của các bậc nghĩa liệt khác, không phải để giữ “đạo lành” cho đến chết, cũng chẳng phải liều chết để làm nên một điều “nhân” vì cái gọi là “đạo lành” là điều “nhân” lúc đó chính là giết giặc cứu nước, là theo nguyện vọng của nhân dân; trái lại là đạo dữ, là bất nhân, là phản bội. Thôi, chúng ta hãy làm một việc ngay thẳng là trả cái chết của Phan-thanh-Giản lại cho Phan-thanh-Giản, cái chết do chính “tác giả” tạo ra, qua một quá trình dài lâu dẫn đến chỗ không lối thoát. Dầu sao, cái chết của Phan cũng chỉ có thể chấm dứt con đường bế tắc của Phan, chớ không thể xóa được tội danh của Phan trước tòa án dư luận nhân dân và lịch sử.

Ðiểm thứ tư mà chúng ta không thể bỏ qua được là: trong khi kết án Phan-thanh-Giản, chúng ta một mặt không để Phan trốn tránh trách nhiệm do Phan trực tiếp phụ trách; một mặt khác chúng ta không quên gắn liền Phan với triều đình Huế mà Phan là đại diện với giai cấp phong kiến mà Phan là tiêu biểu. Như mọi người đều biết, khi thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm nước ta thì cũng là lúc giai cấp thống trị tức giai cấp phong kiến nước ta đã hết nhựa sống, đương hãm vào thế bí. Do đó, trước nạn ngoại xâm, tư tưởng thỏa hiệp đầu hàng đã dần dần thấm vào tầng lớp trên của giai cấp phong kiến. Mặc dầu trong quá trình phân hóa còn có phái chủ chiến, nhưng tư tưởng đầu hàng vẫn ngày càng phát triển và trở nên tư tưởng chủ đạo của giai cấp phong kiến. Bị uy hiếp trước uy vũ của văn minh Tây phương, luận điệu cầu an của Phan-thanh-Giản nhắc lại chuyện cũ như “Hán Văn đế hòa với Hung-nô” hay “Tống Chân tôn hòa với Khiết-đan” đã nói lên tư tưởng của giai cấp thống trị bấy giờ một mặt thì tự kiêu, cho những nước bên ngoài đều là mọi rợ; trái lại, một mặt khác, lại tự ty sợ địch, dọn sẵn con đường đầu hàng. Thật thế, nếu triều đình Huế mà kiên quyết kháng chiến, Tự-đức không có những chỉ thị “nước đôi” thì Phan-thanh-Giản và Lâm-duy-Hiệp sẽ không dám tùy tiện dâng đứt ba tỉnh miền Ðông Nam-kỳ cho giặc. Chẳng những thế, sau khi Phan-thanh-Giản đã ký nhượng ba tỉnh miền Ðông, trước sự công phẫn của nhân dân, Tự-đức cũng đã phải kết án Phan, Lâm là “tội nhân của thiên cổ” nhưng rồi Phan vẫn là người tín nhiệm của triều đình Huế, được triều đình giao cho trọng trách, để rồi một lần nữa, dâng nốt ba tỉnh miền Tây cho giặc. Như thế Phan-thanh-Giản phải chịu trách nhiệm trực tiếp những việc mà ông đã làm, nhưng cũng quán triệt tinh thần và đường lối đầu hàng của triều đình Huế mà ông là đại diện. Ấy là chưa kể sau khi sáu tỉnh Nam-kỳ đã mất và Phan-thanh-Giản đã chết, triều đình Huế vẫn đi theo chiều hướng đầu hàng cho tới khi nước ta bị mất hoàn toàn về giặc Pháp. Như vậy, kết tội Phan-thanh-Giản phải gắn liền Phan với triều đình Huế và bản án Phan-thanh-Giản là nằm trong hồ sơ bản án hàng giặc bán nước của triều Nguyễn.


Tóm lại, qua cuộc thảo luận, chúng ta đã thành công trong việc đánh giá Phan-thanh-Giản, một nhân vật có nhiều khía cạnh phức tạp. Xung quanh Phan-thanh-Giản còn “viền” nhiều sự việc khác của giai đoạn lịch sử chồng chất những sự biến phức tạp. Nếu chúng ta không nhằm vào khâu chính của sự vật, không dùng phương pháp khoa học để phân tích đặng nhận rõ người và việc thì không thể giải quyết được vấn đề. Sau khi đánh giá xong Phan-thanh-Giản, chúng ta sẽ chuyển sang một nhân vật lịch sử khác.

8-1963

Nguồn talawas


Số Lần Chấm:  
24

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 2,883
Nguồn: Tạp Chí Thế Kỷ (talawas đăng lại)
Đăng bởi: Học Trò (12/26/2004)
Người gửi:
Người sửa: Học Trò;