Bài Viết Ẩm thực

Huyền Thoại Dược Thảo - Hoàng Tinh

Linh Bảo chuyển ngữ

10 - Hoàng Tinh 




Huyền thoại xảy ra từ thuở nào và từ đâu không ai biết rõ.
Có thể xảy ra ở Giang Nam, nơi mây mù u ám bao trùm rừng núi quanh năm. Một nơi khí hậu thích hợp cho sự sinh sản của
môn thuốc quí: Hoàng Tinh .
Ngày xưa tại một thôn trang hẻo lánh, có một gia đình nông phu, vợ chồng già chỉ có được một con gái. Gia đình nông phu tuy nghèo nhưng cuộc sống rất an bình hạnh phúc .
Cô gái tên là Hoa mới 16 tuổi. Cô bé rất xinh đẹp làm cho tất cả các bậc cha mẹ của các cô gái khác trong làng đều ngưỡng mộ, ước ao con mình cũng đẹp như thế. Họ gọi cô bé là Hà Hoa Cô Nương .
Vợ chồng nông phu rất thương yêu cưng quí con gái, và mặc dầu sung sướng vì có con xinh đẹp, đồng thời họ cũng lo sợ nhan sắc có thể đem nguy hiểm đến cho con; nên trừ trường hợp đặc biệt, không bao giờ cho cô bé ra khỏi nhà một mình .
Một hôm vợ chồng nông phu phải ra đồng sớm. Mặc dầu đã hết sức căn dặn rằng khi bố mẹ không có nhà, tuyệt đối không được ra khỏi cửa. Thường ngày Hà Hoa không bao giờ sai lời, nhưng hôm ấy thấy nhà hết nước uống, Hà Hoa muốn giúp bố mẹ bèn lấy thùng đi llấy nước ở một giếng cách nhà không xa .
Trong làng có một địa chủ phú hộ vốn là một người rất keo kiệt chuyên cho vay nặng lãi. Lão ta họ Hoàng nhưng người làng đặt thêm tên hiệu là Hoàng Lột Da.
Hôm ấy tình cờ đi ngang qua, lão thấy bên giếng có một cô gái đang kéo nước, bèn đến gần. Vừa trông thấy Hà Hoa, lão nhìn chầm chập, cặp mắt tam giác, đầy vẻ gian ác dâm đãng cứ đăm đăm nhìn đến há hốc mồm, mê mẫn tâm thần .

Hà Hoa thấy có người đến cạnh nhìn một cách vô lễ, thì nổi xùng, mặt đỏ bừng. Cô cảm thấy ánh mắt của lão Hoàng như một bầy ruồi xanh bẩn thỉu kinh khủng, làm cô ghê tởm run sợ . Cô vội vàng gánh nước chạy vội về nhà, mồm chửi xéo:Già mắc dịch .
Lão Hoàng đã hơn 50 tuổi, xưa nay coi tiền và gái trọng hơn sinh mệnh. Lão đã có một bà vợ cả, và mấy cô vợ bé. Nhưng vốn có chủ trương “ Sông bao nhiêu nước cũng vừa . . .” nên trông thấy Hà Hoa là nghĩ ngay đến sự chiếm đoạt. Lão về nhà khỏi cần lo lắng, vì đã có sẵn “bổn cũ soạn lại “, môn tủ của lão vẫn dùng để chiêu nạp hầu thiếp .
Bố mẹ Hà Hoa năm trước thiếu lúa gạo, nên có vay của lão mấy chục đấu gạo. Lão nhắm mắt lại là thấy ngay cách chiếm được Hà Hoa. Theo lệ thường, năm trước vay, năm sau phải trả cả vốn và lời. Thế nhưng năm ngoái mất mùa, nông phu không trả được. Vì thế vốn lời 2 năm cộng lại, nông phu có chạy đằng trời !
Lão Hoàng Lột Da cho gọi vợ chồng nông phu đến bảo phải lập tức trả nợ 2 năm, cả vốn lẫn lời. Cố nhiên vợ chồng nông phu không đào đâu ra được số tiền to như thế để trả ngay trong một lúc . Lão Hoàng liền bắt Hà Hoa đem về nhà, nói rằng dùng làm nô tỳ để thế nợ .
Vợ chồng nông phu chỉ có một con gái độc nhất, công phu nuôi dưỡng giữ gìn cưng quí 16 năm, bỗng dưng bị bắt làm nô tỳ, lại còn lo cho con tránh sao khỏi bị nhục nhã. Vợ chồng nông phu buồn rầu đau khổ gần phát điên. Cả hai cùng bị bệnh nặng, rồi cùng chết không hề được gặp mặt con gái lần cuối .
Hà Hoa ở nhà Lão Hoàng bị bắt làm những công việc nặng nhọc, và cho ăn uống rất kham khổ. Nàng cảm thấy thân như ở trong hang của lang sói, vì lão cứ rình theo, nhìn ngắm ngớ cả người. May sao, trong nhà có một bà vú già, cũng bị bắt gán nợ, cùng hoàn cảnh nên hết sức kèm theo cô bé ban ngày. Còn ban đêm thì bà vợ cả ra lệnh bắt nàng ở trong phòng lo việc đấm bóp cho bà. Nhờ thế Hà Hoa mới tạm được yên thân .

Một hôm tối trời, bà vú già mạo hiểm giúp Hà Hoa trốn ra khỏi nhà. Bố mẹ chết rồi, không còn nơi nào để về. Vai đeo bọc áo và một gói cơm khô, Hà Hoa không cần suy nghĩ gì nữa,cắm đầu chạy thẳng vào rừng sâu .
Cô bé lấy cây lá chằng chịt, cột ghép lại thành một cái lều nhỏ che nắng mưa. Ngày uống nước sương đọng trên cành lá. Đói ăn quả rừng hay rau củ mọc hoang. Hà Hoa thấy ngon nhất là một thứ cây mọc từng bụi, lá giống lá tre, củ màu vàng. Lúc mới ăn hơi đắng, dần dần ăn quen thấy khá ngon miệng .
Thấm thoát Hà Hoa đã ở trong rừng 2 năm. Quen khí hậu và thức ăn rồi, Hà Hoa thấy mình mạnh khỏe và nhanh nhẹn hẳn lên .
Mùa thu đến, núi rừng đơm đầy hoa quả chờ đón nàng . Một hôm Hà Hoa đang ngồi nghỉ dưới một gốc cây đại thọ. Nhớ đến bố mẹ và những ngày sum họp bên nhau.. . . Mãi nghĩ miên man, bỗng một con cọp to lớn, không biết từ đâu hướng về phía Hà Hoa vồ đến .
Trong chớp mắt Hà Hoa hoảng sợ, nhạy dựng người, leo trèo lên một cành cây, và tiếp tục nhảy chuyền cành như điên. Bỗng nàng chợt ngó xuống, nhận ra mình đã leo tuốt lên ngọn cây cao chót vót .

Thoát khỏi miệng cọp, vì thấy cọp đã ngó lên, chào thua bỏ đi rồi Hà Hoa bèn từ từ trụt xuống. Cô nhìn lên cành cao, lại thử leo nhảy như lúc nãy. Hà Hoa ngạc nhiên thấy thân thể mình nhẹ nhàng, leo trèo nhanh nhẹn, chuyền cành như vượn, như khỉ trong rừng.
Tài leo trèo đến từ lúc nào mà mãi đến bây giờ Hà Hoa mới biết. Bây giờ cô có thể chuyền cành đi vào tận núi rừng sâu xa thẳm một cách dễ dàng không còn sợ gì nữa .
Mấy hôm sau, Hà Hoa thấy nhớ bố mẹ, nhớ thôn làng, nơi đã sinh sống 16 năm, đầy kỷ niệm ấu thơ, bèn ra bìa rừng, nơi cô có thể nhìn về phía thôn xóm cũ. Khi cô đang ngồi mơ mộng gởi hồn về dĩ vãng thì chủ tớ Lão Hoàng Lột Da đi qua. Một gia đinh lên tiếng :
-Ô kìa, ai trông giống như Hà Hoa cô nương .
Lão Hoàng quát lên :
-Mau bắt lấy nó cho tao. Nhanh lên !
Bọn thủ hạ của lão Hoàng từ ba mặt xông đến muốn vồ chụp lấy cô. Nhưng Hà Hoa bây giờ không phải là Hà Hoa, cô bé yếu đuối run sợ 2 năm về trước. Bọn chúng không ngờ cô bé bỗng nhảy vụt lên, rồi chuyền cành chạy tuốt vào rừng sâu , không còn thấy bóng dáng đâu nữa !.
Hai ngày sau, khắp làng trên xóm dưới bàn tán xôn xao. Thiên hạ đồn rằng Hà Hoa đã biến thành Tiên nữ, ngày ngày bay lượn trong rừng sâu , cấm không ai được vào phá rừng.Tin đồn lan xa đến cả những thôn xóm lân cận. Và cũng nhờ thế, lão Hoàng đành bỏ hy vọng cướp Hà Hoa trở lại .
Lúc này Hà Hoa là chủ nhân của cả khu rừng. Cô dùng cành lá thích hợp cất một cái chòi nhỏ trên cây cổ thụ để tránh ác thú. Ngoài ra cô cũng không sợ ai trông thấy, hay biết có cô ở đấy nữa !
Sống nhờ hoa quả của rừng núi, Hà Hoa bận rộn nhất là tháng phải tích trữ lương thực cho mùa đông. Cô phải cất để dành hoa quả khô, và nhất là cái giống củ có lá như lá trúc là món ăn chính .
Mỗi chiều Hà Hoa ngồi ngắm cảnh, ca hát những bài hát mẹ dạy ngày xưa mà cô còn nhớ. Giờ đây hồi tưởng đến những ngày sum họp tràn đầy tình yêu là niềm vui duy nhất của Hà Hoa .
Một hôm, khi cô đang ngồi mơ mộng như thường lệ, bỗng đâu vẵng lại giọng hát của một thanh niên . Giọng sơn ca hùng mạnh trầm vang, làm Hà Hoa chú ý. Tự nhiên, Hà Hoa đi hướng về phía tiếng hát :
Vầng dương lặn sau đồi
Mây giăng giăng tơ trời
Ai ơi vào rừng thẳm
Tìm thuốc tiên tuyệt vời !!!

Thanh niên là con của một Y sư, chàng vào núi hái thuốc, cố nhiên cũng đã nghe giai thoại kể về Hà Hoa Tiên Cô. Không biết có phải vì “ Trai tài gái sắc” hay vì “ Giai ngẫu thiên thành…” , hay “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ “. . . đôi bạn không thể nói lời từ giả . . . .
Hà Hoa bằng lòng theo chàng Y sư trẻ trở về làng, về lại thế giới của loài người, để khỏi phải sống bơ vơ hiu quạnh một mình, quanh năm chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hú , là thứ tiếng không thể đối thoại. Làm vợ, làm dâu nhà Y Sư, Hà Hoa kể cho chồng nghe cuộc sống và thực phầm trong rừng .
Y Sư nghe xong biết ngay thức ăn ấy là một thứ dược thảo quí hóa đặc biệt .
Và cũng từ đó về sau, gia đình Y Sư, cha truyền con nối, dùng dược thảo này để trị bệnh như một diệu phương gia truyền .
Chồng Hà Hoa đặt tên giống củ màu vàng này là Hoàng Tinh . Một thứ bảo vật của núi rừng đã nuôi sống Hà Hoa, làm cho nàng mạnh khỏe, gân cốt cứng chắc, chạy nhảy nhanh nhẹn hơn người .
Môn thuốc quí này xứng đáng với tên Hoàng Tinh, là Tinh túy,Tinh hoa, do Tinh khí mầu nhiệm của đất sinh ra.

Dược Thảo Hoàng Tinh


Tên khoa Học : POLIGONATUM KINGIANUM Coll et Hemsi
Thuộc họ Hành Tỏi ( Liliaceae)
Cách chế : Trải qua “Cửu chưng, cửu sái “ . (9 lần hấp, 9 lần phơi )
Hoàng Tinh vị ngọt, khí bình, không độc. Vào 3 kinh Phế,Tỳ, Vị .
Tác dụng: Bổ Tỳ,Vị, nhuận Tâm, Phế, bổ tinh tuỷ, mạnh gân cốt. Trừ gió độc, hơi ẩm, chữa phổi yếu, ho khan, khát nước, đau lưng, đau khớp, suy nhược cơ thể, bổ huyết, bổ âm .
Dùng dưới dạng thuốc viên, thuốc sắc hoặc ngâm rượu .
Rượu Hoàng Tinh:
Hoàng Tinh 4 lượng,
Mật ong 5 lượng
Rượu trắng 1 lít
Hoàng Tinh thái nhỏ. Cho tất cả vào phẫu, thố hay chai
(không dùng đồ nhựa). Đậy kín . Độ 30 ngày rượu ngấm, có thể dùng được .
Không cần lọc, bỏ bã. Có thể ăn cả bã. Mỗi ngày uống 2 lần,
mỗi lần một cốc nhỏ. Không có “phó tác dụng” ( Side effect).
Phụ nữ cũng dùng được .
Hiệu lực : Làm thân thể khỏe mạnh. Bổ dưỡng sau khi bị bệnh .
Cường tinh, hạ huyết áp, ngủ ngon .
Cháo Hoàng Tinh:
Hoàng Tinh 50 gr.
Nấu Hoàng tinh làm nước dùng trước, cho ra hết chất thuốc vào nước dùng .
Xong lấy nước dùng này cho gạo vào nấu cháo .
Cháo nhừ, nếu muốn ăn mặn thì cho thịt thăn nạc, gừng, hành , nước mắm, nêm nếm vừa miệng .
Tác dụng: Ích khí dưỡng huyết, hợp với các chứng người yếu, ăn ít, gầy, lắm bệnh. Người khỏe ăn càng tốt .
Chú ý: Khi đầy chướng bụng không nên dùng .

Nếu muốn ăn ngọt, thì nấu cháo xong cho đường quấy đều, nếm vừa miệng . Ngày ăn 2 lần . 4 ngày là một liều .
Tác dụng: Bổ tỳ Vị, dưỡng tim phổi, bổ tinh tủy, tốt cho người thân thể, tinh lực, ngũ tạng yếu .
Chú ý : Khí đầy, chướng bụng không nên dùng .
Kiêng kỵ : Những người nào Tỳ Vị hư hàn, đại tiện hay đi tháo chảy, nhiều đàm, hàn thấp, yếu dạ không nên ăn .

QUAN TRỌNG : Không nên nhầm cây Hoàng Tinh này với cây Hoàng tinh còn có tên là cây Củ Dong làm tinh bột để ăn, và hay được luộc bán để ăn chơi ở chợ .
Cây Củ Dong họ Maranta Arundinacea thuộc họ Dong (Marantaceae) là một loại ngũ cốc ăn thường, không nên lầm với Dược thảo Hoàng Tinh được dùng làm thuốc .



11 Sơn Dược ( Hoài Sơn )



Ngày xưa, rất xưa, khi một nước chưa phải là một nước lớn, thống nhất , mà là hàng trăm, hàng nghìn “nước “ nhỏ, thì có khi mỗi bộ lạc là một “nước” . Bộ lạc nào đông dân , có nhiều tráng đinh, dũng sĩ hay quân lính, thì người chiếm lĩnh cai trị là Vua, và vùng chiếm đóng là “nước “.
Chuyện kể có hai nước mạnh và yếu giáp giới . Bao nhiêu năm qua họ sống yên vui trong hòa bình . Một hôm bỗng dưng sinh sự đánh nhau . Cố nhiên là nước mạnh thắng trận.
Quan quân rút đi hết, quân nước mạnh hoàn toàn chiếm thành trì lãnh thổ cũa nước yếu .
Bên phía chiến bại có một đoàn quân rất dũng cảm, nhất định không chịu đầu hàng , nên rút lui lên một vùng núi rừng thật xa .
Quân mạnh cố nhiên không tha, đuổi theo vào tận rừng sâu . Nhưng vì núi rừng hiềm trở, dễ thủ mà khó công . Quân mạnh tấn công nhiều lần đều vô hiệu, trái lại còn bị tổn thất nhiều nhân mã .
Tướng quân mạnh bèn ra lệnh bao vây rừng núi, ý định chận đường vận lương. Đợi địch quân đói thì phải đầu hàng .
Một tháng qua, quân yếu trên núi không thấy có động tĩnh gì . Các Tướng của quân mạnh đoán là binh lương của họ sắp cạn .
Nhưng tháng thứ ba, rồi tháng thứ tư qua đi, đoàn quân trên núi vẫn thấy êm ru . Các Tướng lại đoán chắc là bao nhiêu chiến mã đều đã bị dùng làm lương thực . Bây giờ địch quân ngoài đầu hàng không còn cách gì khác nữa .
Các Tướng muốn tấn công tận diệt quân địch, nhưng cũng cẩn thận chờ thêm vài ngày. Mấy hôm sau, quân sĩ được lệnh kêu gọi quân trên núi , bỏ khí giới đầu hàng sẽ được tha . Nhưng mỗi lần nghe kêu chiêu hàng, quân trên núi lại trả lời bằng tên bắn xuống như mưa, tỏ ý quyết không đầu hàng .
Hai bên cầm cự, thấm thoát đã được 8 tháng . Quân bao vây tưởng là tàn quân trên núi đã hết lương thực, ngựa chiến cũng bị ăn thịt hết, quân sĩ cũng chết đói mỗi ngày la liệt trên núi . Nếu còn ít nhiều quân sống sót, chắc cũng giống hình bộ xương khô, không lết nổi. Với sự phỏng đoán lạc quan ấy, vòng vây canh gác cũng nới lỏng, không cẩn thận như trước .
Các Tướng đều nghĩ rằng mình chẳng phải đánh nhau, khỏi tổn thương quân sĩ , cũng không mất công, tốn cung tên, mà sẽ đại thắng. Nay mai chỉ việc lên núi thu dọn tử thi là xong . Cả đoàn, Tướng cũng như Quân vui vẻ, hứng khởi với viễn ảnh đại thắng , nên binh sĩ được phép mấy ngày liền , mở tiệc ăn mừng, đàn ca, rượu thịt khao quân trước .
Mấy hôm sau, đoàn quân mạnh sau 8 tháng bao vây canh phòng mệt nhọc, lại vừa liền nhiều ngày khao quân, rượu thịt, đàn ca , vui nhộn, nên cả Tướng lẫn quân đều mệt nhừ, đêm đến nằm lăn ra ngủ say như chết . Đêm khuya núi rừng yên tĩnh, hàng nghìn tiếng ngáy vang vọng rất xa .
Bỗng nhiên có tiếng reo hò ầm ầm vang dậy chấn động núi rừng. Tất cả doanh trại phát hỏa . Quan quân đang ngủ say sưa hốt hoảng bừng tỉnh dậy, thấy lửa bùng cháy khắp nơi .
Tướng chỉ huy đang ngủ mê man, giật mình tỉnh dậy cùng lúc nghe tin bị tấn công,
không kịp mặc áo giáp, đeo khí giới, nhẩy lên ngựa chạy như bay như biến .
Đoàn quân không có chủ tướng thành một toán quân ô hợp, không còn biết phải làm gì.
Quân địch ào ào tấn công . Tiếng la hét Sáùt Sát vang trời . Trận đột kích thành công trong một thời gian rất ngắn . Cả một đoàn quân nửa tỉnh nửa say, đầu hàng bị bắt gọn .
Đại thắng rồi . Nước yếu lấy được tất cả thành trì đất đai đã mất, dân chúng lại được an cư lạc nghiệp như xưa.
Câu hỏi được nêu lên là khi đoàn quân bị vây 8 tháng trên núi , mà rừng núi này không có cây trái rau quả gì có thể dùng làm lương thực; lại cũng không có quân giải vây , cứu viện, hay có quân vận lương đến . Toán quân yếu này làm thế nào để khỏi chết đói, mà còn đánh thắng một đoàn quâân mạnh khỏe tinh nhuệ gấp bội .
Sự thực là trên núi ấy có một vùng sâu bên trong rừng, sinh sản một thứ cây lá cành rất rậm rạp . Giống cây này mùa hạ nở hoa màu trắng hay lục non. Rể cây tròn to và rất dài như môt cánh tay người lớn .
Khi đoàn quân bị vây chẵng bao lâu, thấy hết lương thực, binh lính đã bắt đầu đói khổ . Các Tướng đang phân vân không biết nên quyết đấu đến chết, hay đầu hàng để sống .Một hôm có một binh sĩ đói quá, đào một thứ củ trong rừng lên ăn . Dù quá đói cũng thấy ngon lành dễ nuốt. Thế là vấn đề lương thực cho cả đoàn quân được giải quyết. Người ăn củ, ngựa ăn cành lá, đợi ngày phản công .
Thắng trận rồi, mấy hôm sau nước yếu cử hành lễ ăn mừng thắng trận . Tất cả các Tướng sĩ đều nói” Chúng ta thắng trận, công đầu phải là nhờ núi rừng . Nếu khóng có quà tặng của núi rừng ban cho thì chúng ta đã chết đói rồi; mà cả đến chiến mã cũng phải thành lương thực . Chính cái lộc của núi rừng này đã đem chiến thắng phục quốc lại cho chúng ta .”
Đoàn quân muốn kỷ niệm thứ củ cứu mạng ấy vĩnh viễn không quên ơn, nên đặt tên là Sơn Ngẫu . Có nghĩa là ngẫu nhiên gặp được trên núi lúc tính mệnh bị nguy hiểm .
Từ đó, dân chúng bèn đào củ ấy làm lương thực . Sau khi ăn lâu ngày người ta cảm thấy ngoài no bụng, còn bổ khỏe thêm như mạnh Tỳ, Vị , bổ Thận, bổ Phế .
Rồi không biết từ lúc nào, những người Tỳ Tạng suy nhược, hay bị chứng Lị đều nhờ ăn Sơn Ngẫu mà lành .
Sơn Ngẫu đã từ món ăn biến thành dược thảo. Rồi cũng không biết từ bao giờ, và vị Y Sư nào đã gọi Sơn Ngẫu là Sơn Chi Dược, Nghĩa là Thuốc Núi ( Sơn Dược) , rồi thành tên cho đến bây giờ .
Theo Trung y cho rằng Tỳ Tạng là bộ phận rất quan trọng , chuyên hấp thụ chất bổ để phân chia cho toàn thân, vì thế phải chú ý đến sức khỏe của Tỳ Tạng. Mà món bổ dưỡng nhất cho Tỳ Tạng là Sơn Dược .
Trong thực đơn hàng ngày, tên Hoài Sơn thông dụng hơn.

DƯỢC THẢO SƠN DƯỢC
Còn gọi là Hoài Sơn , Khoai mài . Tất cả 25 tên .
Sơn Dược hay Hoài Sơn là thân rễ cây củ mài
Tên khoa học : Dioscorca persimilis, Prain et Burk
Thuộc họ Củ Nâu . (Dioscoreaceae)
Vị ngọt, tính bình. Có tác dụng mạnh bổ Tỳ , Vị, Phế, Thận.
Dùng chữa tả lỵ lâu ngày, ăn uống kém tiêu, ra mồ hôi trộm ,tiêu khát hư hao sinh ho, di tinh, đới hạ, tiểu tiện nhiều lần . hạ nhiệt , khí hư , đau lưng, hoa mắt, chóng mặt ..
Cháo Sơn Dược tươi :
Sơn dược tươi 100 gr . (khô 45 gr . ) bột mì 100gr . hành, gừng , đường .
Rửa sạch Sơn Dược, gọt vỏ, giả nhỏ hay mài vụn. Cho tất cả vật liệu nước vừa đủ, nấu vừa chín thành cháo bột .
Công dụng: Khỏe tỳ , ích Khí, dưỡng Tâm . Người yếu Tỳ Vị , tiêu hóa kém, hay giật mình , ra mồ hôi trộm . Ăn lúc đói .
Có thể nấu chung với gạo, thành cháo, thêm Đại Táo ( Táo đen khô ) bỏ hột .
Tác dụng bổ khí huyết, khỏe tỳ Vị, hợp với người già yếu, khí huyết không thông, kém dinh dưỡng, người gầy yếu .
Sơn Dược nấu canh chung với Ky Tử , dưỡng âm, ích trí .
Sơn dược nấu chung với thịt lợn , bổ cho người yếu mệt, đau dậy .
Chú ý : Người Trung niên , người già béo phì, không nên dùng .
Rượu Sơn Dược :
Sơn Dược 4 lượng, Đường 5 lượng . Rượu trắng 1 cân . Cho vào bình để chỗ im mát, 1 tháng chất thuốc ra hết . Mỗi ngày uống sáng, chiều trước khi ăn cơm một ly nhỏ .
Tác dụng: Giảm đau, định thần kinh, giải độc, hồi xuân, cường tinh.



12 – Bối Mẫu



Một nghìn ba trăm năm, trước đời nhà Đường, có hai huyền thoại về vị thuốc Bối Mẫu đã được truyền tụng trong dân gian tại Giang Tá Thưởng, một thị trấn nhỏ, thuộc tỉnh Giang Nam .
Truyện thứ nhất là truyện một thương gia, mấy đời buôn bán làm ăn lớn rất phát đạt. Một hôm cánh tay thương gia bị chợt, vết thương rất nhỏ và cũng không đau đớn gì nên bị coi thường. Nhưng chỉ vài hôm sau, vết thương ban đầu bé tí bỗng sưng tấy lên rất to và làm nhức nhối đau đớn vô cùng. Mủ máu cứ ri rỉ từ những chỗ nứt ở vết thương chảy ra .
Thương gia đã xem nhiều Thầy, dùng nhiều thuốc đều không hiệu nghiệm . Bệnh càng ngày càng nặng, bệnh nhân trông càng thảm não tiều tụy, ốm yếu vì không ăn uống gì được. Người nhà phải đổ rượu cho cánh tay thành tê dại, bớt đau, bệnh nhân mới nuốt trôi được vài thìa cháo. Khi chất rượu tan, hết tê dại thì lại nhức nhối đau đớn vô cùng .
Lương Y đã tận tâm, mà bệnh nhân cũng không hề ngại ngần bỏ tiền ra mua tất cả các loại thuốc quí giá. Dù là thuốc kim loại, khoáng thạch, hay thảo mộc. . . . Cần hay không cần cũng mua , dùng cho đến gần hết thuốc, mà bệnh vẫn không thuyên giảm .
Một hôm trong cơn tuyệt vọng, bệnh nhân dùng thử Bối Mẫu . Chỉ mấy hôm chỗ sưng nhỏ lại và hình như vết thương cũng teo bớt rất nhiều . Bệnh nhân mừng quá, ngày ngày bóp nặn cho máu mủ ra , dùng Bối mẫu trong uống ngoài thoa, chẳng bao lâu lành hẳn .
Huyền thoại thứ hai cũng xảy ra tại Giang Nam. Lại cũng nhờ Bối Mẫu đã cứu cho một thiếu phụ mẹ tròn con vuông, khiến cho gia đình khỏi tan nát.
Chồng của thiếu phụ này là con một trong gia đình nên Bố mẹ rất khao khát chóng có cháu bế . Trong ba năm thiếu phụ sinh được ba con, nhưng cứ mỗi lần vừa sinh ra là đứa bé chết ngay sau khi sinh . Không những con chết mà mẹ cũng mệt nhọc thở dốc gần đứt hơi , làm cả nhà đều lo sợ cho tính mạng của người mẹ .
Rồi một hôm có một Thầy Bói vác bảng quảng cáo “Bói Toán Tử Vi Số Mệnh” , đi ngang qua làng. Bà mẹ chồng già bèn mời ông ta vào nhà, nhờ xem vận số tướng mạng cho nàng dâu . Ông Thầy bói hỏi thăm ngày sinh tháng đẻ của thiếu phụ xong, mở rương lấy dụng cụ bói toán ra . Nào Sách, nào hương trầm, nào đồng tiền gieo quẻ, nào mu rùa . . . .
Thấy lóc cóc lách cách tính toán hồi lâu xong, nói với một bộ mặt rất trang trọng :
-Bà cầm tinh Bạch Hổ, là con Cọp trắng . Cọp phải ăn thịt Dê, Chó, Heo, vì thế ba đứa con bà đều bị Cọp bắt mất .
Bà mẹ chồng hốt hoảng hỏi:
-Vậy phải làm thế nào ? Tốn kém bao nhiêu cũng không ngại. Xin Thầy cứ dạy cho cách tránh được vận hạn này .
Thầy Bói vuốt râu chậm rãi nói:
-Có cách chứ . Lần sau, khi bà sinh con , nhớ bảo bố nó lập tức dấu đứa bé đi . Xong bế đứa bé chạy về hướng Đông. Phía ấy có biển . Cọp vốn sợ nước , nếu đem đứa bé dấu ở nơi gần nước vài ngày . Cọp tìm đến nơi thấy nước sẽ sợ chạy về rừng.
Năm sau, thiếu phụ lại sinh được một bé trai . Người chồng lập tức làm theo lời ông thầy bói dặn. Nhưng đứa bé vừa được đem ra khỏi nhà không xa thì tắt thở .
Bà mẹ chồng nồi xùng, chửi ông thầy bói thậm tệ, và vì nóng ruột muốn có cháu bế, bà bắt con bà phải bỏ vợ. Lý do vì cô này kém đức không sinh được con sống, mà chỉ sinh con chết .
Tội nghiệp thiếu phụ, được tin chồng sắp bỏ thì khóc lóc thảm thiết . Cô biết chồng thương cô nhưng hoàn cảnh chồng là con một, phải có bổn phận sinh con để nối dõi tông đường , nên dù không muốn cũng không dám cãi lời mẹ .
Trong lúc ấy, tình cờ có một thầyï Lang ở làng bên đi ngang qua, nghe tiếng khóc than kể lể, và tiếng mắng chửi của bà mẹ chồng, thầy bèn dừng bước hỏi mấy người hàng xóm, để biết những chuyện gì không may đã xảy ra .
Sau khi hiểu rõ câu chuyện , thầyï Lang liền vào nhà hỏi thăm . Người Thầy trông thấy trước nhất là một thiếu phụ mặt mày tái mét, đang khóc lóc thảm thiết . Là một thầy Lang có kinh nghiệm, vừa nhìn qua là biết ngay người đàn bà đang có bệnh nặng .
Thầy Lang tự giới thiệu và tỏ ý tình nguyện muốn xem mạch , phước chủ may thầy , có khi kết quả như ý .
- Bà sinh xong thì bị nổi cơn hen suyển rất nguy kịch . Và em bé cũng bị chết ngay. Đó là vì bệnh chứ không phải vì cớ gì khác. Bây giờ tôi có thể chữa bệnh, giúp cho bà sinh được em bé khỏe mạnh ăn chơi .
Sau khi chẩn mạch xong, Thầy Lang nói một cách đầy tin tưởng như thế . Thiếu phụ vừa rồi đang lo sợ bị chồng bỏ, vội vàng chắp tay quì vái Thầy Lang biểu lộ tạ ơn, Nhưng riêng người chồng và bà mẹ chồng vì tin theo lời thầy bói nên vẫn tỏ vẻ hững hờ.
Thầy Lang cất giọng nghiêm nghị nói với bà già như ra lệnh :
- Bảo con bà sửa soạn lên núi hái thuốc . Cây thuốc ấy lá nhỏ dài, đầu cuống có hoa màu tím đậm . Tìm được cây ấy thì đào lên, gốc rể sẽ có từng chùm củ, có múi như múi tỏi . Hái đem về làm thuốc .
Người chồng vâng lời Thầy lên núi hái thuốc suốt mấy ngày liền . Mỗi ngày hái xong, đem về rửa sạch đất cát, xong cho vào ấm sắc thuốc cho vợ uống .
Người vợ uống thuốc chuyên cần. Sau ba tháng, không những lành bệnh sản hậu, sức khỏe tăng lên gấp bội, mà còn mặt mày hồng nhuận, tươi trẻ như một thiếu nữ .
Chẳng bao lâu bà lại hoài thai . Đúng tháng ngày sinh được một em bé trai khỏe mạnh. Lần sinh này bà không bị cơn hen suyển làm thở dốc gần đứt hơi như những lần trước . Em bé cũng rất ngoan, mỗi ngày khóc lớn một lúc, được bú no xong ngủ một giấc ngon lành .
Một gia đình đang từ đau khổ thất vọng, biến thành hạnh phúc tràn trề .Cả đến bà mẹ chồng, khó tính già nua lụm khụm. cũng thích lết lại gần để được ẵm bồng cháu .
Lễ cúng đầy tháng xong, mẹ con vợ chồng lên đường đi thăm Thầy Lang để tạ ơn . Thầy cũng rất vui mừng thấy kết quả sự chữa trị đã đem hạnh phúc lại cho một gia đình gần như sắp bị đổ vỡ .
Cả nhà ai cũng muốn hỏi tên vị thuốc cứu mạng ấy là gì . Thầy thành thật trả lời :
- Sự thực tôi chỉ biết dùng để chữa bệnh, mà không biết tên gì .
Bà già ngắm nhìn cháu nội khỏe mạnh hồng hào một hồi lâu, cười đề nghị:
-Nếu vậy xin Đại Phu cho phép tôi đặt tên được không ?
-Nếu vậy thì tốt quá . Mời bà .
- Thứ dược thảo ấy đã giúp cho người mẹ sinh được hài nhi khỏe mạnh . Là một thứ thuốc tiên, là một bảo bối quí nhất trần gian . Vậy tôi xin lấy chứ Bối trong Bảo Bối ghép với chữ Mẫu là Mẹ . Gọi là Cây Bối Mẫu được không ? Ý nói dược thảo quí như bảo bối của những người mẹ .
Rồi từ đấy cây thuốc đã cứu cho một gia đình khỏi tan nát có được một tên xứng đáng : Bối Mẫu . Tuy rằng trước đó đã có nơi gọi nó là Khổ Thái, hay Khổ Hoa, nghĩa là rau đắng, hoa đắng ,và nhiều tên khác nữa. Nhưng từ lúc chuyện này xảy ra, tên Bối Mẫu được dùng trong y giới và dân gian cho đến bây giờ .
DƯỢC THẢO BỐI MẪU
Bối Mẫu khí bình , vị khổ (đắng) và tân (cay), không độc
Có hai thứ Bối mẫu trên thị trường : Thứ sản xuất ở tỉnh Tứ Xuyên gọi là Xuyên Bối, củ nhỏ như hạt bắp , giá đắt hơn vì chất thuốc mạnh hơn . Thứ củ lớn bằng quả sung, gọi là Thổ bối mẫu chất thuốc không mạnh bằng . Nhiều cách chế hóa và phối hợp khác nhau, nhưng cốt yếu Bối Mẫu là một vị thuốc giáng hỏa, tiêu đờm, thanh phế .
Bối Mẫu vị khổ nên tả tâm hỏa, tân nên tán phế uất, nhuận được cả Tâm và Phế, thanh được những chứng đờm do khí hư mà sinh ra . Trị được những chứng hư lao buồn phiền nóng nãy, ho hắng đầy hơi. Chữa được những chứng phế ung, cuống họng sưng đau
Tóm lại là Bối Mẫu làm tan được những nơi bí kết, trừ được chứng nóng nẩy, tan được những mụn độc, làm lành được những đầu mụn đã vỡ rồi .
Thường dùng cho người mới sinh con không có sữa cho con bú, người bị ho lâu ngày .
Phối hợp với các vị thuốc khác để trị những chứng :
Ban chẩn mới phát bốc lên nóng quá, phát suyển, phát ho đờm sò sè , chứng thương hàn, buồn phiền khó chịu .
Phối hợp chữa những chứng nhiệt độc, trúng phong, xương gân co cứng , lên cơn vì đờm.

Rằng Thì Là . .. .
Phạm vi mục này là kể chuyện Huyền Thoại cho vui, nghe như chuyện cổ tích. Phần Dược thảo, ghi chép thêm một ít điểm chính, như gấm thêm hoa, không phải mục đích đăng những bài thuốc thông dụng hay đơn thuốc gia truyền nên chỉ lướt qua ngắn gọn .
Những thứ “nặng ký” ấy, LB để dành cho quí vị có thẩm quyền .
Linh Bảo


13 – THƯƠNG TRUẬT




Năm thứ 200, vào cuối đời nhà Hán, binh biến không ngừng, khắp nơi sống trong cuộc sống chạy loạn quanh năm, cho nên dù ai có ruộng đất cũng không thể nào trồng trọt, canh chủng gì được . Đã thế lại bị thiên tai đủ thứ liên tiếp không ngừng. Lúc bên bờ sông miền Đông bị thủy tai, thì bên bờ phương Bắc bị hạn hán . Dân chúng không thể nào sống trong cảnh an cư lạc nghiệp được .
Lúc ấy, một nơi nay là thành phố Nam Dương , thuộc tỉnh Hà Nam, tình hình càng nguy ngập . Mỗi ngày có hàng ngàn người chết đói . Những người may mắn còn thoi thóp chỉ đi rải rác khắp nơi xin ăn.
Trong tình cảnh thiên tai nhân họa như thế, bao nhiêu cây cỏ hoa lá hầu như bị đào bới hết sạch . Mọi người chỉ còn cách đi sâu thêm vào rừng núi cao xa, để mong tìm thứ gì nhai được qua ngày .
Dù sao rau cỏ dại trong rừng , chỉ dùng tạm một thời gian ngắn thì không sao, nhưng lâu ngày , thiếu dinh dưỡng quá độ, người lánh nạn cứ chết dần chết mòn . . . . .

Mấy chục năm sau, không biết bao nhiêu là vật đổi sao dời, một hôm có một cô gái trẻ tự xưng họ Vương , đến một làng gần vùng Nam Xương. Cô nói là cô đã trốn vào trong rừng ngần ấy năm, nay nhớ nhà quá chịu hết nổi, nên đánh liều mò ra .
Những người còn sống sót trong vụ vừa chạy giặc, vừa chạythiên tai, thủy tai năm ấy, không một ai nhận ra cô Vương bây giờ là cô bé ốm đói ngày xưa. Lý do là đã bao nhiêu năm tháng qua mà cô gái trông không đứng tuổi hay già thêm tí nào. Da mặt cô mịn màng , hồng hào như da một thiếu nữ . Không ai tin được là cô gái xinh đẹp khỏe mạnh này với cô bé ốm o gầy còm ngày xưa là một người .
Cô Vương phải phân trần, chứng minh đủ điều người làng mới chịu tin trong sự ngạc nhiên vô cùng .
“ Năm ấy tôi và người làng chạy vào rừng, vì mọi người đã tận dụng tất cả những gì có thể ăn được, hết sạch lương thực, nhiều người bắt đầu chết đói. Tôi sợ quá nên cố đem hết tàn lực gắng vào rừng sâu hơn. Ở đấy, tôi gặp được một cụ già, cụ thấy dáng điệu gần chết đói thảm não của tôi, bèn dạy cho tôi cách sống trong hang đá, cách lấy nước và ăn Thương Truật .
Từ đấy mỗi ngày tôi đào Thương Truật ăn cho qua bữa. Không hiểu vì sao, sau khi ăn khá lâu , tôi không thấy đói nữa, trái lại hình như khỏe mạnh thêm lên. Và cho đến bây giờ tôi cũng không bao giờ đau ốm gì cả “.
Chuyện cô Vương một đồn mười, mười đồn trăm , ai cũng tin nên cả vùng Nam Dương đều gọi Thương Truật là thần dược .
Chuyện thứ hai:
Một năm nọ vợ chàng Trần Tử Hoàng, bị bệnh nằm liệt giường, bỏ ăn uống, mặt mày cũng ốm o vàng khè .Từ lúc bắt đầu bệnh bà chỉ nằm yên, không có sức mà nhúc nhích nữa. Người chồng rất lo sợ, mời rất nhiều Thầy Lang xem bệnh, đã uống nhiều thuốc nhưng đều vô hiệu .
Một hôm trong lúc thất vọng và lo sợ cho tính mạng của vợ, chàng chợt nhớ đến chuyện cô gái họ Vương. Tuy nửa tin nửa ngờ, nhưng còn nước còn tát, chàng vội lên núi đi tìm Thương Truật đào về sắc cho vợ uống .
Sau mấy tuần uống thuốc đều, bệnh nhân tỉnh táo dần, tinh thần cũng minh mẫn gấp bội, và cứ thế, càng uống thuốc càng tin tưởng. Người bệnh từ giả giường bệnh, trông khỏe mạnh xinh đẹp hơn xưa . Vợ chồng sống lại những ngày trẻ trung hạnh phúc tuyệt vời, nên chẳng bao lâu trong nhà lại có tiếng trẻ cười khóc vui đùa , làm cuộc sống thật lý tưởng .
Chuyện thứ ba :
Một thành phố huyện gần Nam Dương có một văn nhân họ Hứa . Mấy chục năm trời chàng chỉ suốt ngày viết văn\ , ngâm thơ, không hề làm việc gì vận động thân thể .
Tuổi càng ngày càng cao, sức khỏe cũng theo tuổi trẻ dần dần tiêu tán. Chàng bắt đầu thấy ngán ăn, thân thể cũng yếu trông thấy .
Thầy Lang chẩn bệnh nói chàng bị bệnh “ Ẩ m tích”, một bệnh thuộc bộ phận tiêu hóa.
Chàng không cần biết tên bệnh, chỉ khổ sở vì ngực bên trái hay cảm thấy đau nhói. Và tuy không ăn vì không muốn ăn, mà dạ dày cảm thấy đầy ứ, lại hay có tiếng kêu lõm bõm phát ra , cứ ựa nước chua. Khi trời nóng thì nửa người bên trái không thể ra mồ hôi, trong khi nửa người bên phải mồ hôi ra như tắm .
Ban đầu chàng còn uống vài cốc rượu dằn cơn đau để ngủ . Nhưng càng về sau rượu cũng không giúp ích gì, đành phải trở lại tiếp tục tìm Thầy Lang. Thầy cho thuốc khá hiệu nghiệm, nhưng nếu ngưng uống thuốc thì tất cả các chứng và sự đau đớn lại ào ào trở lại .
Và c ứ như thế chàng văn nhân họ Hứa sống với thuốc ngót 30 năm trường .
Một hôm, Thầy Lang nghe các Thầy khác ở Trường An nói là bệnh Ẩm Tích có thể dùng Thương Truật chữa khỏi . Thầy bèn dùng Thương Thuật để điều trị .
Chỉ mấy tháng sau văn nhân họ Hứa đã trở lại phong độ ngày xưa . Hơn nữa ngoài sức khỏe trở lại, văn hay chữ tốt , tài ngâm vịnh văn tài tấn bộ, đã nổi tiếng là một đại văn hào của thành Nam Dương.


DƯỢC THẢO THƯƠNG TRUẬT (Atractylodes lancea Thumb)
Vị đắng, cay, tính ấm, khí mạnh vào hai kinh Tỳ và Vị .
Thương Truật còn có 13 tên khác nữa .
Công hiệu của Thương Truật cũng gần giống như Bạch Truật. làm cho Tỳ Vị mạnh lên .
Bạch Truật là dược thảo thu hoạch khi củ còn non . không đắng .
Thương Truật vị cay mạnh hơn nên khai thông được đờm, làm khô ráo khí ẩm ướt uất trệ , làm cho ra mồ hôi, Bạch Truật làm cho mồ hôi không ra nữa .
Công dụng : Kiện tỳ, trợ Vị, táo thấp, phát hãn . Chữa khớp xương đau nhức do phong thấp hoặc hàn thấp , trị ngoại cảm phong hàn, đau đầu ớn lạnh .
Những người táo bón lắm mồ hôi kiêng dùng Thương Truật . Khi dùng những thuốc có Thương Truật kiêng ăn quả Đào , Mận, thịt chim Cắt .
Thương Truật có tính chất sát trùng tiêu độc . Mùa hè hun đốt Thương Truật trong nhà, khói làm muỗi chết hết .
Dược thảo Thương Truật không những chỉ dùng trong uống mà còn dùng được ngoài thoa . Da ngứa ngáy có thể nấu nước Thương Truật để ngâm, tắm . chà xát ngoài da làm hết ngứa .
Thương truật có thể dùng một mình , mà cũng có thể phối hợp với các vị khác để trị những chứng ăn không tiêu, nôn mửa , hạ lỵ , cảm mạo, toàn thân đau nhức. Đổ mồ hôi trộm, mắt mờ . . . .
Người xưa, đêm trừ tịch ngoài cầu nguyện cho được sức khỏe, còn đốt Thương Tuật để trừ tà ma ( hay đuổi muỗi mòng vi khuẫn)
Hiện tại Thương Truật vốn được dùng chữa bệnh đã thành một dược thảo phổ thông như :
Cháo Thương Truật :
Bao tử heo hầm chung với Thương Truật làm nước cốt . Lấy nước này nấu cháo. Xắc bao tử heo mỏng, ướp nước mắm, gừng, hành, chanh, ớt, cho vào cháo , nêm nếm vừa miệng .
Tác dụng:
Bổ trung ích khí. Kiện tỳ hòa Vị, giúp tiêu hóa , chán ăn , mệt mõi, sình bụng .
.

14 – Uy Linh Tiên



Uy Linh Tiên là một huyền thoại bắt đầu từ một làng nhỏ trong dãy núi Phục Ngưu Sơn thuộc tỉnh Hà Nam .
Trong làng dưới chân núi, có một đôi vợ chồng trẻ rất thương yêu quí trọng nhau. Cả hai đều mồ côi và không có bà con thân thích, nhưng vì gắng sức làm lụng không ngại khó nhọc nên cuộc sống cũng khá sung túc .
Một năm vào khoảng tháng 9, đúng theo thiên nhiên thì gió thu mát mẽ phải bắt đầu thổi báo hiệu thay mùa, không ngờ mùa hạ vẫn lưu luyến, suốt mấy ngày trời nắng chang chang rất nóng nực . Thế nhưng khi mặt trời vừa lặn, gió mát từ từ dịu dàng thổi đến bao trùm xuống cả thôn làng. Năm nay mưa thuận gió hòa, nên mọi người đều hy vọng lúa chín đầy đồng lúc mùa gặt đến.
Viễn tượng lúa gạo đầy lẫm đầy kho làm đôi vợ chồng trẻ rất sung sướng . Tối hôm ấy người chồng ở ngoài đồng trở về, mặt mày chân tay lấm lem bùn đất . Vợ thấy chồng có vẻ mệt nhọc, vội vàng dục chồng tắm rửa. Chồng tắm mát xong thì cơm nước đã dọn sẵn, ngoài mấy món rau thường còn có món nhắm và một bình rượu .
Chồng sung sướng thấy được vợ săn sóc chu đáo, cùng nhau ăn uống chuyện trò, vui mừng một năm được mùa .
Cơm nước xong, chồng bảo vợ đi ngủ trước, còn chàng đã lâu không uống rượu,cảm thấy nóng nực, nên ra trước thềm nhà, dựa vách đá ngồi hóng mát.
Trời mới vào thu, làm việc ngoài đồng vất vả, đổ mồ hôi rất nhiều . Nhưng mặc dầu suốt ngày làm việc nặng nhọc, được bữa cơm đặc biệt ngon lành vừa rồi, lại có rượu ngon nhắm tốt nên bao nhiêu nhọc mệt đều tiêu tan .
Chàng ngồi trước thềm nhà, mặt mày tươi tỉnh đầy thỏa mãn sung sướng, thả hồn phiêu diêu, lơ mơ ngủ quên luôn, trong khi ấy mặt trời tắt nắng rồi bóng tối buông trùm .
Người vợ đi ngủ trước, thức giấc lúc nửa đêm , không thấy có chồng với tiếng ngáy quen thuộc nằm bên cạnh. Nàng cảm thấy lo sợ vội cất tiếng gọi chồng và vùng dậy chạy đi tìm .
Khi người chồng nghe tiếng vợ gọi thức tỉnh dậy, thì bỗng thầy tứ chi rũ liệt đau dớn như búa bổ vào người. Chàng cố gượng đứng lên, hai đùi nhức nhối không nhích đi được, chàng kêu thét lên và ngả phịch xuống đất .
Vợ nghe tiếng thét của chồng vội chạy đến gần, muốn dìu chồng vào nhà nhưng không đủ sức. Thành ra nàng phải vừa lôi vừa kéo, vừa đẩy vừa đùn, mồ hôi toát ra như tắm mới đem được chồng vào nhà .
Thế là suốt đêm hôm ấy, vợ phải xoa bóp hai đùi bị tê dại của chồng và luôn miệng hỏi:
-Tại sao thế? Anh làm sao thế? Anh làm sao mà bỗng dưng thành bệnh thế này ?
Chồng không trả lời được vì chính mình cũng không biết tại sao .
Sáng hôm sau, vợ vội vàng đi mời thầy Lang .
Ngày lại ngày, hết thầy Lang này đến thầy Lang khác, uống đủ thứ thuốc nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm, trái lại, càng ngày càng nặng hơn lên . Các thầy Lang đều nhận ra là chứng “ thấp tà” , một trong các chứng thuộc “Ngũ lao, Thất thương”.
Vợ mỗi ngày không ngại khổ sở săn sóc chồng, nhưng thấp tà là một chứng rất khó trị.Các Thấy Lang đều từ từ “chạy” hết . . . . . . .
Từ ngày chàng bị ma bệnh xâm nhập, thấm thoát đã 10 năm vẫn không hề thuyên giảm. Ban đầu chỉ có hai đùi và lưng, nhưng sau 10 năm, cả đến tay chân cũng tê bại luôn. Chứng thấp tà làm chàng mất hết sức lực, cả đến muốn trở mình cũng vất vả vô cùng .
Một hôm người chồng thấy vợ vì săn sóc mình mà ốm o gầy mòn, nên rất thương tâm vừa nói vừa khóc:
-Bệnh anh không thề nào khỏi được. Suốt 10 năm nay, em vừa tảo tần buôn bán kiếm ăn vừa lo săn sóc thuốc thang cho anh. Anh còn được nhìn thấy em, còn được nắm tay em, anh biết em thương yêu anh vô cùng. Nhưng bây giờ anh muốn em phải lo cho tương lai của em. Em không thề để đời tàn như thế này được.
Vợ nhìn người chồng đã tuyệt vọng, gục đầu bên thành giường nói:
-Không, không, em nhất định phải tìm cách trị bệnh cho anh. Không kể năm, tháng hay trọn đời, nếu không trị được bệnh cho anh thì em cũng không muốn sống một mình.
Cả hai cùng nhìn nhau đầm đìa nước mắt. Vợ bỗng nhiên nói:
Bắt đầu từ ngày mai, anh phải làm theo lời em dặn. Chúng ta phải hợp lực cầu nguyện cho đến khi trị được bệnh mới thôi .
Chồng không hiểu vợ nói gì và định làm gì, nhưng thấy vẻ cương quyết đầy tự tin của nàng làm chàng thêm cảm động .
Sáng sớm hôm sau. Vợ nhờ hàng xóm giúp đặt chồng lên một cái chõng tre, khiêng đến con đường có người qua lại tấp nập. Nàng ngồi bên cạnh chồng, kể cho người qua đường nghe bệnh trạng của chồng, hy vọng trời xui đất khiến sẽ gặp được một vị Lương y có thể cứu trị .
Sau đời nhà Tùy Đường, ở Trung Quốc, các vị Lang Trung đi hành y qua các làng mạc, đều đem theo một vài đệ tử gánh thuốc, và cũng để thực tập chữa bệnh. Những vị Lang Trung vân du hành y này, có người vì không thích làm quan mất tự do. Và cũng có nhiều Lang Trung có tiệm bán thuốc, bốc thuốc ở tỉnh thành, nhưng mỗi năm đến mùa thu hoạch dược thảo cũng đem đệ tử vào rừng, lên núi, để thu hoạch tìm kiếm những cây thuốc hiếm quí. Số Lang Trung vân du thường qua lại các làng để hái thuốc chữa bệnh này, cũng có nhiều vị nổi tiếng mát tay .
Người vợ đau khổ đã rước các Thầy Lang quanh vùng chữa trị cho chồng nhưng đều vô hiệu, nên nay đặt hết hy vọng vào một vị nào đó, tình cờ đi qua và có duyên may của Phước Chủ mà được gặp chăng.
Một, hai rồi ba ngày … . . . Người qua đường đều thương xót tội nghiệp người đàn bà , họ vui lòng dừng chân nghe kể câu chuyện thương tâm, nhưng không ai quen biết một danh y nào để giới thiệu .
Rồi bốn, năm, sáu ngày . . . . . giọng người đàn bà đã khàn dặc, nhưng vị Lương y cứu tinh hai vợ chồng cầu mong vẫn chưa thấy đến .
Bảy , tám, chín ngày vô tình trôi qua . . . . Miệng người đàn bà kể lể nhiều quá đã sưng vếu lên, rách khóe môi tươm máu. Đã thế lại còn vì ngày ngày quì bên đường sỏi đá, hai đầu gối cũng bị trầy da sưng mọng.
Thiếu phụ không còn nói năng được nhiều , nhưng vẫn kiên nhẫn quì bên đường chờ vị Lang Trung cưú tinh.
Thấy vợ hình dung tiều tụy đến thảm, chồng không nỡ bèn năn nỉ :
-Bao nhiêu ngày rồi vẫn không có hy vọng tìm được Thầy . Anh nghĩ chắc không có ai chữa được bệnh này đâu. Nếu chúng ta cứ tiếp tục , anh sợ em cũng ngả bệnh luôn. Thôi chúng ta về nhà, chấp nhận số phận an bài, lo hậu sự đi em !
Miền núi hoàng hôn đến rất sớm, rồi đi cũng rất nhanh. Chỉ trong chớp mắt là trời tối . Mặc dầu hai bên hàng phố nhiều nhà đã lên đèn, vợ vẫn ngồi lỳ bên cạnh chồng. Trên đường, trừ những kẻ đi làm về, không còn khách bộ hành qua lại . Nàng đợi chỉ trong chốc lát nữa, mấy người láng giềng từ tâm sẽ đến giúp nàng khiêng chồng về nhà .
Đúng lúc ấy, có người quen chạy đến gọi nàng rối rít:
-Có Thầy Lang đến . Có Thầy Lang đến !
Nhưng lúc ấy cả hai vợ chồng đều đã tuyệt vọng, vì suốt ngày, bao nhiêu vị Lang Trung đi qua, chỉ dừng chân hỏi thăm, nhìn ngắm, rồi lắc đầu bỏ đi .
Một lúc sau, một vị Lang Trung vân du, không thấy đem theo đệ tử đến gần . Cụ Lang tay chống gậy, vai mang một bọc vải to tướng, cằm có ba chòm râu bạc dài, tỏ ra đã già lắm rồi . Cụ Lang đến nhìn , nghe người đàn bà nói không ra tiếng, kể lể không thành lời, chỉ có nước mắt chảy dài đầm đìa trên má .
Cụ Lang bỏ cái bọc trên vai xuống, lấy ra một mớ dược thảo nói :
-Chồng của bà bị chứng Phong Thấp Tà . Bà đừng lo, có thuốc đây !
Người vợ nghe thế lập tức sụp lạy, dập đầu lia lịa tạ ơn .
Mười năm săn sóc người chồng bệnh hoạn, nàng đã vì chồng chịu trăm cay nghìn đắng, cuối cùng lại còn phải phải chường mặt ra đường cái , cầu khần người qua lại, xin tìm giúp lương y . Hôm nay cuối cùng cô gặp được Y Sư .
Người chồng thầm nghĩ :
“Ai bảo trên đời không có Thần Phật? Chính vợ chàng và vị Lương y , Hai người này không phải Thần Phật cứu mạng chàng thì là gì ?”
Cụ Lang theo vợ chồng về nhà, mở khăn gói, lấy dược thảo ra dạy cho người vợ cách sắc thuốc, cách cho chồng uống thuốc .
Sáng hôm sau, Cụ Lang lấy ra một nhánh dược thảo hỏi người vợ :
-Cây thuốc này nhất định quanh vùng này phải có . Cháu có biết nó không ? Chúng ta sẽ lên núi hái ngay.
Nhìn thấy cây thuốc cô vui mừng nhưng nghi ngờ hỏi :
-Thưa cụ, giống cỏ này là . . . thuốc sao ? Con thấy tràn đồng .
Trên núi quả thực dược thảo mọc đầy khắp nơi.Thuốc hái được về. Nàng rửa sạch đất cát, vứt bỏ những cành khô chết, ngâm nước một lúc,xong cắt khúc nhỏ ngắn . Sau khi phơi trong mát, lại ngâm với rượu gạo, rồi vớt ra rang khô . Sau khi thuốc đã khô nhưng không cháy, lấy ra cất nơi mát. Thuốc coi như chế xong, sẵn sàng để dùng .
Cụ Lang dạy sắc thuốc cho bệnh nhân uống mỗi ngày ba lần. Ngoài ra lại còn lấy thuốc tán thành bột, dùng dấm nhào thành hồ nhão , đắp vào những nơi khớp xương móc nối, lấy vải bao bọc kín lại .
Thuốc trong uống ngoài thoa vài ngày, chân tay bệnh nhân bắt đầu cựa quậy được .
Một tháng sau, cử động dễ dàng hơn. Mấy tháng sau, bệnh nhân chống gậy đi chập chững, rồi chẳng bao lâu bỏ gậy đi một mình .
Người bệnh 10 năm đã xác xơ gầy còm da bọc xương, thực không ngờ lại có ngày mạnh khỏe như trở lại thời tráng niên. Mối tình nồng thắm của đôi vợ chồng trẻ trở lại hạnh phúc đầm ấm như xưa .
Cụ Lang thấy bệnh nhân lành hẳn rồi, sức khỏe cũng hoàn toàn hồi phục nên một hôm sau bữa cơm sáng, cụ tỏ ý muốn từ giả ra đi .
Người vợ rất tri ân Cụ Lang đã cứu mạng chồng mình nên cầu khẩn :
-Xin Cụ ở lại với chúng con. Chúng con không có cách gì đền ơn cho xứng. Chúng con không có bà con thân thích, nếu Cụ không chê, xin cụ ở lại cho phép chúng con được phụng dưỡng suốt quãng đời còn lại.
Cụ Lang nghe xong cười ha hả :
-Cảm ơn hai cháu có lòng ưu ái , nhưng tôi là một Y Sư. Còn có người khác, nơi khác cũng đang cần tôi .
Cụ ngừng một lúc, nói tiếp :
-Cách chế vị thuốc này, các cháu đã biết thông thạo. Từ nay trong làng có ai bị bệnh giống như thế, cứ theo cách ấy mà trị cho họ. Chữa lành càng nhiều người là lễ vật quí nhất tặng cho tôi đó .
Nói xong, cụ đeo khăn gói bước đi .
Người vợ bỗng chạy theo cụ gọi với :
-Thưa cụ, Cụ chưa cho chúng con biết tên vị thuốc này .
Cụ Lang dừng chân suy nghĩ một lúc trả lời:
-Gọi nó là Uy Linh Tiên nhé. Ừ, Uy Linh Tiên đúng rồi. Uy là sức mạnh . Linh là linh nghiệm, Tiên là thần tiên. Nói tóm lại là linh nghiệm như thần .
Nói xong Cụ Lang cười gật gù chống gậy lên đường
Kể từ đó, người ở Phục Ngưu Sơn đều gọi giống cỏ ấy là Uy Linh Tiên .
Những chứng bệnh Phong Thấp Tà, Thống Phong, Cước khí làm Tứ chi tê bại, lưng hay đầu gối bị cảm lạnh mà sinh bệnh đau nhức . Uy Linh Tiên là vị thuốc chủ trị .

Dược Thảo Uy Linh Tiên (Clementis Chinensis Osback)
Khí ấm , vị hơi đắng, không độc. vào Phế kinh và Can kinh. Thông được 12 kinh lạc.
Công dụng của Uy Linh Tiên chữa được mọi chứng phong độc, miệng méo lệnh, ngứa gải, trầy da đau xót, phong chạy khắp mình, đau các đốt xương, chân tay tê bại, không đi lại được .
Nhưng thuốc rất mạnh, không nên dùng nhiều và dùng lâu, sợ nó tiết chân khí. Người có chứng hư chớ dùng, kỵ trà và bột miến .
Rượu Uy Linh Tiên
Uy Linh Tiên 2 lượng, (cắt nhỏ)
Đường 4 lượng
Rượu trắng 35 độ, 1 cân
Cho tất cả vào bình chai, không dùng đồ nhựa .
Đậy kín, độ 1 tháng, lọc bỏ xác để dành, để bao lâu cũng được, không có màu sắc .
Cách dùng :
Chất thuốc chạy rất nhanh nên bắt đầu chỉ dùng thử 2 thìa canh. Nếu không thấy có gì làm khó chịu, có thể thêm 2 thìa nữa, cho đến nửa cốc một ngày là tối đa .
Đầu tiên dùng một tuần, nghỉ 5 ngày, tiếp tục dùng 1 tuần , lại nghỉ 5 ngày . . . . Nếu thấy bệnh có vẻ hiệu nghiệm .. bớt một nửa phần rượu thuốc ( ¼ cốc). Về sau tiếp tục dùng 7 ngày nghỉ 5 ngày . . . . .
Sau khi dùng hết hủ rượu đầu tiên, ngưng dùng 2 tháng , đổi dùng Rượu Thược Dược hay thứ khác . Sau hai tháng dùng lại Uy Linh Tiên sẽ hiệu nghiệm hơn .
Công dụng:
Trị các chứng phong thấp, thần kinh , gân, bắp thịt đau nhức .. . . .


Thêm:
“ Mua không thêm , Nằm đêm không ngủ “ (ca dao)
Vì nhiều bạn muốn nghiên cứu các chứng kể trên, định lên núi tìm may ra được gặp Tiên…(biết nói) chăng , gọi LB hỏi thăm về cách nhận diện vị dược thảo này .

Uy Linh Tiên cũng còn có vài tên khác: Cây Lác, Cây Kiến cò, Nam Uy Linh Tiên , Bạch Hạc Linh Chi (hoa giống hình chim Hạc bay) , Tiến thảo .
Liều dùng, từ 10 đến 12 gr .
Cây cao 1,5 , thân mọc thẳng đứng, có nhiều cành , lá mọc đối nhau
có cuống, hình trứng thuôn dài, đầu nhọn, dài 2-cm, rộng 1-3cm,
mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn. Hoa nhỏ màu trắng hơi điểm
hồng, nhiều hoa có cuống ở đầu cành hay đầu thân. Quả nang dẹt,
không hạt ở dưới, phía trên có từ 2 đến 4 hạt. Hạt hình trứng, hai mặt lồi.
Rể cây tươi hay khô dùng làm thuốc. Rể tươi mới đào, bẻ đôi để một lúc
sẽ có màu đỏ .
Mùa hái quanh năm, tốt nhất vào thu, đông .
Dùng vỏ và rể , có khi dùng cả lá . Rể đào về rửa sạch xắc lát, phơi khô .
Có khi được ngâm rượu hay ngâm cồn để có tác dụng khác .
(Bạn nào thắc mắc xin hỏi cụ Lang, LB chỉ chuyển ngữ . Nếu không gặp Cụ Lang, xin mua sách, tìm tên này không thấy , thử tìm tên khác.

Vị thuốc này rất phức tạp, từ dược thảo Mộc Thông chế hóa, cũng có nơi gọi là Uy Linh Tiên.) Linh Bảo .


15 – Ngô Thù Du


Linh Bảo chuyển ngữ
Một ngàn năm trăm năm trước, nước Ngô sản xuất thứ dược thảo này tốt hơn sản phẩm các nước khác nên được gọi là Ngô Du .
Về sau Ngô Du thành ra Ngô Thù Du được huyền thoại lưu truyền lại rằng :
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vua nước Sở không chịu được lạnh . Lâu dần sinh ra chứng đau bụng mạn tính, mồi lúc bệnh phát là lên cơn thượng thổ hạ tả, đau khổ vô cùng .
Một hôm có một viên quan nhỏ của nước Sở , lo lắng cho bệnh của nhà Vua, nên lặn lội đến nước Ngô mua cho được giống cỏ Ngô Du để dâng hiến cho Vua .
Nhìn lễ vật lạ kỳ , không phải là vàng bạc châu báu như lễ vật thường thấy, Sở Vương hỏi :
– Cái này là giống gì thế ?
-Tâu Bệ Hạ, đây là dược thảo Ngô Du, thần đã sang tận nước Ngô mua dâng tiến cho Bệ Hạ .
-Dùng làm gì ?
-Tâu dùng để trị bệnh cảm lạnh mà sinh chứng đau bụng . . . .
Sở Vương chưa kịp nghe hết lời đã nổi giận quát :
-Ta không bệnh hoạn gì cả . Ngươi đem thuốc đến để trủ ẻo cho ta sinh bệnh mà chết phải không ?
Sở Vương ném dược thảo xuống sàn, lại còn ra lệnh cho lính Ngự Lâm Quân lôi viên quan ra xử trảm .
Trong lúc ấy có Châu Đại Phu là một quan Ngự Y trong triều, lập tức quì xuống tâu:
-Tâu Bệ Hạ, xin tha tội chết . Hắn ta không có ác ý . Ngô Du quả thực là một vị thuốc hay nổi tiếng xưa nay . . . . .
Thấy Châu Đại Phu liều chết xin cứu mạng cho tội nhân, Sở Vương miễn cưỡng nói:
-Thôi, nếu thế cho hắn ta về nhà làm ruộng .
Viên quan nhỏ lập tức bị lột áo mão quan, bị đuổi ra khỏi thành ngay lập tức .
Châu Đại Phu rất thương cảm, tiễn bạn ra đến t ận cửa thành nói:
-Đại Vương không hiểu nên mới xử như thế. Xin ông đừng buồn, đợi cơ hội đến sẽ trở lại .
Chờ viên quan nhỏû bị lột chức đi xa rồi , Châu Đại Phu mới thở dài trở về cung .
Châu Đại Phu nghĩ rằng khi Sở Vương lại phát bệnh , thế nào cũng phải dùng dược thảo Ngô Du, nên sau khi về nhà , ông lấy nhánh cây dược thảo đã bị Ngô Vương vứt bỏ đem trồng ở vườn sau . Đã thế mỗi ngày ông đều thăm nom, chính tay săn sóc vun tưới . Chẳng bao lâu Ngô Du nãy mầm , đâm nhánh , rồi khai hoa, kết quả . Châu Đại Phu dạy cho người nhà hái quả , phơi khô nơi im mát , cất để dành .
Một hôm Sở Vương bệnh cũ lại tái phát, thượng thổ hạ tả . Dù nằm yên trên giường cũng không nén được cơn đau. Vua chỉ biết lăn lộn rên la không ngớt .
Châu Đại Phu biết bệnh của nhà Vua là bệnh do bị cảm lạnh mà ra, nhưng không dám nói rõ trước mặt cả một đoàn Ngự Y thân tín của nhà Vua .
Sau khi tất cả các phương thuốc của các vị Ngự Y hợp lực ra toa đều vô hiệu . Châu Đại Phu mới về nhà lấy dược thảo Ngô Du sắc cho Vua uống .
Sở Vương uống thuốc xong tinh thần sảng khoái tỉnh táo ngay, cơn nôn mửa cũng êm dịu hẳn .
Sau khi uống liền mấy thang , Sở Vương đã có thề dậy ra khỏi giường được .
Sở Vương vừa thắc mắc vừa tò mò hỏi Châu Đại Phu :
- Khanh cho Trẩm uống thuốc gì mà hay vậy ?
-Tâu Bệ Hạ, đó là dược thảo Ngô Du, mấy năm trước một viên quan nhỏ đã sang nước Ngô mua về dâng cho Bệ Hạ .
Sở Vương nghe thế chợt nhớ chuyện mấy năm trước.
– Thế viên quan ấy bây giờ ở đâu rồi ?
- Tuân lệnh Bệ Hạ, ông ta bị giải quan, về làm ruộng , nay đã thành một tên dân quê vô danh tiều tốt .
Sáng hôm sau, Sở Vương ra lệnh khoái mã , phi ngựa như bay, ra khỏi thành đem theo Thánh chỉ triệu hồi .
Chẳng bao lâu viên quan nhỏ đến chầu , được khôi phục quan chức, còn được thăng cấp thành một quan lớn .
Mấy tháng sau, Sở Vương mời Châu Đại Phu vào Cung để hỏi rõ thêm về Ngô Du, cây thuốc quí đã cứu bệnh cho nhà Vua .
Châu Đại Phu suy nghĩ một lúc rồi chậm rãi nói :
– Thần xem trong sách cổ , có ghi một huyền thoại rằng :
Ngày xưa, rất xưa, có một thanh niên xa nhà lên núi học đạo với một vị Sư nổi tiếng .
Một hôm , sau khi nhập định rất lâu , Sư Phụ gọi chàng đến bảo :
Ngày mồng 9 tháng 9 này , cả nhà con sẽ bị một tai họa khủng khiếp .
Thanh niên nghe nói hoảng sợ vội hỏi Sư Phụ làm thế nào để tai qua nạn khỏi .
Sư Phụ thở dài đáp:
- Lần đại nạn này không phải chuyện chơi. Tai họa không những toàn gia bị hại, mà cả đến gia súc cũng không thoát . . . Ta phải làm cách nào để tránh khỏi bây giờ …. .
Sư Phụ lại nhập thiền suy nghĩ hồi lâu bảo :
- Con phải đi về ngay lập tức . Bảo người nhà mỗi người may một cái bao vải, đựng đầy Ngô Du . Xong treo bao thuốc lên ngực , quàng qua vai. Cả gia đình rời nhà lên núi . Lên đến đỉnh núi thì lấy rượu Cúc hoa ra uống .
Thanh niên tuân lệnh Sư Phụ, đi suốt đêm về đến nhà làm theo lời Thầy dặn . Ngày mồng 8, tháng 9 , mỗi người đeo một bao dược thảo Ngô Du đã tán thành bột rời nhà lên núi, uống rượu Cúc , ở lại đến mồng 10 tháng 9 mới xuống núi .
Khi về đến nhà xem lại thì thấy tất cả gia súc đều chết lăn quay ra cả . Trừ gia đình thanh niên được bình an .
Đệ tử trở về Sơn động, đem mọi việc trình cho Thầy biết . Thầy chỉ nói :
– Tất cả gia súc đã chết thay cho gia đình con .
Sau khi câu chuyện này được loan truyền, từ đấy mỗi năm đến mồng 9 tháng 9 , dân quê vùng núi hay đeo bọc Ngô Du lên núi và uống rượu Cúc hoa như một phong tục.
Rồi cũng vì tin là Ngô Du có thể sát trùng trừ ôn dịch, trước cửa ra vào người ta hay treo một cành Ngô Du để trấn tà ma ôn dịch .
Sở Vương nghe chuyện xong liền ra lệnh khuyên khắp nước , toàn dân nên trồng dược thảo Ngô Du . Chẳng bao lâu, nước Sở cũng như nước Ngô thành xứ sản xuất Ngô Du hảo hạng .
Mấy năm sau, vào một mùa thu, nước Sở bỗng nhiên phát bệnh ôn dịch. Dân chúng khắp nơi lây bệnh , đều bị đau bụng , thượng thổ hạ tả . Chứng này cũng gọi là Xích lỵ, hay nôm na là dịch tả .
Sở Vương ra lệnh cho Châu Đại Phu , họp tất cả Y sư trong vùng, chế thuốc trị dịch cưú dân . Châu Đại Phu dùng Ngô Du làm vị chính, chế thuốc phát đi khắp nơi cứu bệnh . Nhưng chẳng may, Châu Đại Phu vì lo việc chữa trị quá nhọc mệt, tuổi già sức yếu nên mang bệnh rồi qua đời .
Sở Vương muốn dân chúng nhớ đến công ơn nên lấy họ Châu của Châu Đại Phu , kèm vào Ngô Du, gọi là Ngô Châu Du .
Người đời sau nhận thấy Ngô Du là thực vật, nên trên chữ Châu, viết thêm bộ thảo . Đọc thành ra Thù , không có nghĩa gì, chỉ để đi chung với Du . Từ đấy chính thức thành tên vị dược thảo Ngô Thù Du .
Dược Thảo Ngô Thù Du (Evodia Rutaecarpa)
Ngô Thù Du (Fractus Rutaeae) là quả chín phơi khô của cây Ngô Thù Du.
Ngô Thù Du cay, đắng , tính ôn, hơi có độc , vào 4 kinh Can, Thận, Tỳ và Vị .
Tác dụng dược lý : Khứ phong, hoạt huyết . Phong thấp nhức xương. Chống nôn mửa, giúp tiêu hóa, bổ dạ dày .
Còn dùng trong trường hợp ăn không tiêu, đau bụng, nôn mửa , đi tả, cước khí, đau đầu , thân mình tê nhức , chân tay mềm yếu, cảm lạnh, lở ngứa (sắc lấy nước rửa nơi ngứa).
Cấm kỵ : không thuộc chứng hàn, thấp, không dùng được .
Cháo Ngô Thù Du :
Nấu cháo xong, cho Ngô Thù Du đã nghiền thành bột, cùng với gừng, hành , nấu chung , nêm nếm vừa miệng .
Tác dụng : bổ Tỳ, ấm dạ dày, ngừng nôn mửa, cảm lạnh đau bụng buồn nôn .
Trong 9 loại cháo trị các chứng, cháo Ngô Thù Du thuộc loại trị chứng hàn .
Rượu Ngô Thù Du
Ngô Thù Du rửa sạch, lau khô . Phần lượng một nửa bình, nếu khô thì dùng 1/3 dược thảo . Rượu chêm đầy, không cần cho đường . Để chỗ im mát, 3 tháng sau dùng được .
Hiệu lực : Rượu bổ, thêm cường tráng. Tiêu tan mệt nhọc, đau lưng .


16 – Nhân Trần Cao



Linh Bảo
Chuyển ngữ
Gần hai ngàn năm trước , Vị thần y đời Đông Hán là Hoa Đà đã tìm ra vị thuốc Nhân Trần Cao để chữa bệnh Hoàng Đản (vàng da) cũng gọi là Viêm gan.
Hoa Đà sinh tại Hoa Gia Trang, nay thuộc tỉnh An Huy . Mẹ của Hoa Đà rất yếu ớt bệnh hoạn, Hoa Đà và em trai là Hoa Minh săn sóc mẹ rất chu đáo , nên được tiếng là hai người con có hiếu ( Hoa gia lưỡng hiếu tử) .
Một hôm có một Y sư thấy Hoa Đà thông minh hơn người, bèn hỏi chàng tại sao không học làm thầy thuốc .
Hoa Đà trả lời vì không gặp được thầy giỏi để theo học . Vị Y Sư nghe thế bèn nói :
- Thầy giỏi không quan trọng bằng biết tính chất của dược thảo .
Y Sư bèn xin phép mẹ Hoa Đà đem chàng theo về tiệm thuốc để dạy Trung y.
Sư phụ là một Y sư chuyên nghiệp nên Hoa Đà thường phải gánh thuốc theo thầy đi thăm bệnh . Chẳng bao lâu, Y sư trước khi qua đời dặn Hoa Đà rằng tại Chùa Phổ Đà , có Hòa Thượng Quảng Tế là một lương y nổi tiếng cao minh. Hoa Đà vâng lời Sư phụ xin làm đệ tử Hòa Thượng Quảng Tế. Rồi từ đấy chính thức nhập ngành Y .
Một hôm Hoa Đà đang ngồi cạnh Hòa Thượng đọc sách. Bỗng có người cáng một bệnh nhân đến xin chữa trị. Lúc ấy Hòa Thượng không muốn xem bệnh, chỉ ngồi yên tĩnh tọa niệm Phật .
Hoa Đà vùa nhìn thấy bệnh nhân thì biết ngay là bệnh chóng mặt cấp tính . Nhưng lúc chàng cầm bút định ra toa viết đơn thuốc thì bỗng cảm thấy như có gì nghẹn cứng không thề nào hạ bút viết xuống được
Đúng lúc ấy Hòa Thượng bỗng lên tiếng :
- Cuốn Nội Kinh Chú Dịch của Biển Tích viết là một cuốn sách hay .
Khi Hòa Thượng vừa nói đến chữ Biển, Hoa Đà liền viết ngay ra giấy kê đơn thuốc ba chữ Biển đậu hoa.
Mấy hôm sau người bệnh nhờ món thuốc Biển đậu hoa chữa lành , đem đến một tấm hoành phi có khắc 4 chữ “ Quảng Tế Chúng Sinh” đến Chùa Phổ Đà để tạ ơn Hòa Thượng .
Hòa Thượng Quảng Tế thấy tấm biển bèn trả lời :
- Tôi không có công, không dám nhận .
Ngài nói xong cầm tấm biển quay lại trao cho Hoa Đà, rồi bước ra khỏi chùa đi vân du, và không bao giờ trở về nữa !
Sự thực trong gác kinh có một cuốn sách của Biển Tích viết, chú giải cuốn Hoàng Đế Nội Kinh, là cuốn sách thuốc cổ quý giá của Trung Y.
Hoa Đà từ đấy lấy nguyên tắc “ Quảng Tế Chúng Sinh “, cứu giúp mọi người làm chí nguyện để hành y .
Sau khi Hoa Đà trở thành Y sư, vì y lý rất cao minh nên tiếng thần y vang dội khắp nơi. Mỗi ngày người đến tiệm thuốc của Hoa Đà xin khám bệnh rất đông đảo .
Một hôm vào mùa Xuân, có một bệnh nhân da rất vàng, được người nhà cáng đến tiệm thuốc. Đôi mắt bệnh nhân cũng vàng vọt trên khuôn mặt trái xoan hốc hác, trông như chỉ có da bọc xương .
Vừa nhìn thấy, Hoa Đà biết ngay là bệnh nhân bị chứng Hoàng đản .
Bệnh Hoàng đản ngày xưa vốn là một bệnh nan y . Bất kỳ Y sư nào cao minh đến đâu cũng không trị được . Y sư chỉ khổ tâm nhìn bệnh càng ngày càng nặng hơn, kể cả Hoa Đà cũng vậy, nên Hoa Đà chỉ nói với bệnh nhân :
-Chứng bệnh này không thể một lúc mà trị được . Đợi tôi tìm được môn thuốc gì hay,sẽ mời đến lại . Bây giờ tạm thời xin về nhà gắng chờ đợi . Tôi thật rất tiếc . . . .
Bệnh nhân và người nhà vâng lời ra về, nhưng Hoa Đà nhìn thấy sự thất vọng không dấu được thì rất ái ngại đau khổ . Rồi cũng từ đấy , chàng ngày đêm lo nghĩ tìm cách chữa trị bệnh hoàng đản .
Một năm lặng lẽ trôi qua mà phương thuốc quí vẫn chưa tìm được .
Mùa Xuân năm thứ hai, một hôm Hoa Đà phải sang làng bên chữa bệnh. Khi về, ông đang đi trên đường bỗng kêu to một tiếng như kinh ngạc, như hoảng hốt, làm mọi người chung quanh đều nhìn ông một cách lạ kỳ .
Sở dĩ ông ngạc nhiên như thế, vì thấy chàng thanh niên bị bệnh hoàng đản được cáng đến nhà ông năm nào, giờ đây trông rất mạnh khỏe đang đứng trước mặt ông. Hoa Đà vội hỏi một cách nồng nhiệt :
- Vị Y sư nào đã chữa khỏi bệnh cho anh thế ? Tôi muốn biết người. Tôi nhất định bái vị Y sư ấy làm sư phụ .
Thanh niên im lặng nghe hỏi xong lắc đầu trả lời :
- Sau khi ỏ nhà Đại phu về, tôi không hề được Y Sư nào chữa trị cả .
- Vậy anh uống thuốc gì mà hay vậy ?
- Thưa tôi không hề uống thuốc gì cả, tự nhiên lành thôi .
Hoa Đà nghe thế suy nghĩ và thấy lạ lùng vì thanh niên lúc ấy đã bị hoàng đản vào thời kỳ cuối rất nặng, chỉ còn chịu được vài tháng thôi. Thế mà bây giờ sống sờ sờ , lại còn có vẻ mạnh khỏe hơn người .
Hoa Đà vội hỏi thêm ;
- Thế từ hồi ấy đến giờ , ngoài những món cơm rau, thức ăn thường dùng, anh còn dùng thứ gì nữa không ?
Thanh niên không hiểu đối với Hoa Đà là rất quan trọng , nên trả lời rất hững hờ :
- Mùa Xuân năm ấy mất mùa không có gì ăn. Cho nên tôi chỉ ăn một thứ cỏ hái trên rừng. Tôi nhờ người nhà đi nhổ vể . Nếu không có giống cỏ ấy thì không những chỉ mình tôi chết đói, mà cả thôn này mọi người đều chết đói hết.
- Nếu thế nghĩa là anh nhờ ăn giống cỏ hoang ấy mà lành bệnh phải không?
- Thưa phải, ăn độ hai tháng sau thì lành hẳn .
Hoa Đà nghe xong mắt sáng ngời , hớn hở xin chàng thanh niên dẫn ông lên núi tìm thứ cỏ ấy .
- Kìa, đó là giống cỏ tôi ăn.
- Ơ kìa, chả phải cỏ Hoàng Cao mọc khắp nơi là gì ?
Hoa Đà hái một mớ đem về, tìm đến nhà những bệnh nhân bị chứng Hoàng đản để chữa trị .
Nhưng kết quả không được như ý muốn. Không một bệnh nhân nào được chữa lành .
Hoa Đà lại tìm đến thanh niên để hỏi thêm .
Anh ta chợt nhớ thêm :
- À, đúng rồi. Năm ngoái tôi ăn giống cỏ ấy vào quãng tháng 2 và tháng 3. Trừ giống này ra, tôi không ăn thứ gì khác .
Người nói thản nhiên, nhưng Hoa Đà chú ý ghi nhớ từng lời .
-À , Thì ra thế ! Tháng 2 , 3 là mùa bách thảo đâm chồi nẫy lộc. Trăm hoa đơm bông khai hoa nở nhụy . Mùa cỏ Hoàng Cao nẫy mầm nên chất dược thảo mạnh nhất. Lần trước hái Hoàng Cao vào tháng tư vì thế chất thuốc không còn nữa .
Hoa Đà cúi chào thanh niên, nói vài lời cảm tạ rồi ra về.
Năm sau, tháng hai, Hoa Đà nhờ mọi người trong thôn làng hái giúp cỏ Hoàng Cao thật nhiều, rồi đem chia cho những bệnh nhân bị chứng hoàng đản dùng để trị liệu .
Hoa Đà theo dõi thấy bệnh mọi người càng ngày càng nhẹ, lòng vui mừng vô cùng.
Hai tháng sau tất cả những người bị chứng hoàng đản đều lành hẳn. Còn giống cỏ hái tháng tư, dùng đều vô hiệu.
Hoa Đà bây giờ đã nắm chắc bí quyết , một hôm cùng các đệ tử ăn cơm , ông nói:
- Hoàng Cao tháng 2 , 3 có thể trị bệnh Hoàng Đản. Nhưng cỏ hái từ tháng tư trở đi thì vô hiệu . Để khỏi quên . Chúng ta lập ra định luật này: Ta gọi cỏ hái từ tháng ba về trước là Nhân Trần, ý nói là Nhân có mùi thơm . Còn cỏ từ tháng tư về sau cứ giữ tên cũ là Hoàng Cao.
Thế nên từ đấy những đệ tử học ngành Y có khẩu quyết :
“Tháng 2, 3 Nhân Trần , tháng 4 Hoàng Cao , Tháng 5 dùng đun bếp “
Dược Thảo Nhân Trần Cao (Arthemisia Capillaris Thun)
Vị đắng, tính bình, hơi hàn, vào kinh Bàng Quang. Có mùi thơm đặc biệt ,
Tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, thấp nhiệt, hoàng đản , lợi tiểu. phong thấp. sốt rét, hóa đờm, thông khí, khán khuẩn, lợi gan , lợi mật, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa.
Các chứng vàng da,tiều tiện ít, vàng đục, sốt, nhức mắt, chóng mặt, phụ nữ kém ăn sau khi đẻ
Cách chế :Thu hái khi cây đang có hoa . Bỏ gốc, rửa sạch đất phơi trong im mát cho khô, không nên để gần lửa .
Vị này các bà dùng nhiều hơn nên phương ngôn có câu :
Nhân Trần, Ích mẫu đi đâu ?
Để cho bà đẻ đau lâu ốm dài .
Cháo Nhân Trần
Nấu Nhân Trần trong nồi nước cho ra hết chất thuốc, vớt bỏ xác, cho gạo vào nấu thành cháo Muốn ngọt bỏ đường vừa miệng .
Công dụng chữa trị : Lợi thấp nhiệt, thoái hoàng đản , lợi tiểu , nước tiểu vàng đậm, vừa trị bệnh vừa bổ dưỡng .
17 – Lưu Ký Nô


Chuyện kể Tướng Quân Lưu Dụ , tức Vua Tống Cao Tổ, trước khi làm Vua (420) là một Tướng lập rất nhiều công trận dưới Triều nhà Đông Tấn .
Trong một cuộc hành quân, Lưu Dụ cùng binh sĩ phải vượt qua một ngọn núi hiểm yếu. Đoàn quân đang trẩy bỗng nhiên có một con rắn thật lớn nằm chắn ngang đường.
Lưu Dụ nghe báo bị rắn cản đường thì nổi giận, lập tức phi ngựa nhanh lên Tiền quân .
Quả nhiên có một con rắn rất lớn, thân mình cỡ to hơn một cái tô canh, đang nằm ngang yên lặng trên đường , làm cho đoàn quân phải dừng lại, hỗn loạn cả hàng ngũ .
Khi Lưu Dụ muốn dùng Trường mâu gạt rắn sang một bên, thì rắn vốn đang nằm bất động, vùng dậy cất đầu nhìn Lưu Dụ một cách giận dữ, vừa thè lưỡi ra dọa nạt. Bộ dạng rắn như muốn ăn tươi nuốt sống đối phương .
Lưu Dụ là một Tướng cầm quân, trước mặt mấy nghìn binh sĩ, đâu có thề tỏ ra nhu nhược sợ một con rắn được .
Nhưng dù sao , ông cũng hoang mang vì bị rắn cản đường không biết là một điềm tốt hay xấu. Xưa nay, ông chưa bao giờ trông thấy một con rắn lớn, thế mà bây giờ đang đối diện với con vật khủng khiếp ấy, nó lại có bộ dạng như sắp tấn công ông .
“ Bình tĩnh, phải bình tĩnh !” Lưu Dụ tự trấn định tinh thần, mãi một lúc mới bớt sợ . Ông bước đến gần rắn nói :
- Mi tiến không tiến, lui không lui. Mi muốn nằm đây làm gì ?
Rắn cố nhiên không trả lời, hơn nữa còn phùng mang trợn mắt nhìn Lưu Dụ .
Lúc ấy có một Phó Tướng đến gần ông nói nhỏ :
- Thưa Tướng Quân, con đường này có thể nguy hiểm. Hay là chúng ta lui, rồi sẽ tìm đường khác tiến quân .
Lưu Dụ không tin sự mê tín ấy. Ông đưa cây trường mâu cho Phó Tướng cầm, rút cung tên đeo sau lưng ra, nhìn rắn nói :
- Nếu mi không thối lui thì ta sẽ bắn chết .
Rắn như không nghe thấy lời cảnh cáo, ngẩng đầu cao hơn, thở phì phì , lấy thế mổ tấn công địch .
Lưu Dụ cũng nghĩ rằng đây không phải là nơi nên ở lâu, nên nhắm vào yếu huyệt của rắn bắn một phát tên, xong vội vàng lui binh .
Sau khi đoàn binh rời xa nơi rắn nằm. Lưu Dự vẫn còn sợ rắn đuổi theo, nên ra lệnh kiểm điểm lại người, ngựa, thấy còn nguyên vẹn, mà rắn cũng không đuổi theo nên mới thở phào, vui mừng được thoát hiểm. chỉ phải mồ hôi đã toát ra như tắm. Một vị Tướng Quân trăm trận trăm thắng của nhà Đông Tấn , ai ngờ cũng có lúc hồn vía lên mây như thế.
Suốt đêm hôm ấy Lưu Dụ không ngủ được, cứ lo nghĩ không biết con rắn ấy còn sống hay đã chết .
Sáng hôm sau, cơm nước xong, Lưu Dụ không nghe lời chư Tướng khuyên can, ông nhất định trở lại con đường cũ . Khi đến nơi rắn nằm hôm qua thì rắn không còn ở đấy nữa .
Lúc ông đang sắp ra roi phi ngựa lên đường , thì bỗng nghe có tiếng cối đá đang giã một thứ gì từ trong rừng vang dội lại .
Chuyện từ con rắn lớn đến tiếng cối giã gạo thực không có gì liên hệ, nhưng Lưu Dụ linh cảm thấy hai sự việc này phải có dính dáng đến nhau. Ông bèn quyết định thúc ngựa, dò theo tiếng cối giã phát ra .
Bên trong rừng sâu hiện ra mấy Đồng tử mặc áo màu xám tro, đang bận rộn giã một thứ lá gì trong một chiếc cối đá .
Thật là một chuyện lạ . Trong rừng rậm thâm u như thế mà có các Đồng tử giã dược thảo, luyện thuốc gì đây ?
Lưu Dụ ngạc nhiên hỏi :
- Các em đang giã gì trong cối thế ?
Từng Đồng tử lên tiếng trả lời :
_ Thưa, Sư Phụ của chúng con bị ông Lưu Ký Nô bắn tên trúng, bị thương nặng .
- Sư Phụ bảo chúng con đến đây luyện thuốc trị thương .
- Bó thuốc bột này vào, vết thương sẽ lành ngay, liền da như cũ .
Lưu Ký Nô nghe xong, râu tóc dựng đứng, toát mồ hôi lạnh, thầm nghĩ : Nếu con rắn ông bắn hôm qua là Sư Phụ của các Đồng tử này , và chính miệng Đồng tử nói ra , tên Lưu Ký Nô, thì tên ấy là đúng tên thật, tên cúng cơm của ông . Ông sợ hãi hỏi :
- Tôi là Lưu Ký Nô, các em là ai ?
Bọn trẻ phá lên cười mĩa mai :
- Chính mình là Thiên Tử tương lai mà mù tịt, không biết gì hết ! Sao mà dốt đến thế !!!
Lưu Dụ nghe Đồng tử nói rắn là Sư Phụ, thế bọn trẻ con này có lẽ là thần tiên chăng ?
Ông lại hỏi :
-Có phải các em là thần tiên không ?
Bọn trẻ không trả lời chỉ lo chăm chú giã thuốc.
Trong phút chốc, Lưu Dụ bỗng cảm thấy mình oai phong như một ông Vua thật. Ông bèn quát lên :
- Nghe đây ! Ta là Thiên Tử Lưu Ký Nô. Bọn bây là giống gì mà dám lăng xăng trước mặt ta . Hãy mau mau cút đi !!!
Lưu Dụ vừa la hét vừa múa cây trường mâu, mấy Đồng tử hoảng sợ, không dám cãi lời. Trong chốc lát, thân hình chúng dần dần mờ nhạt rồi tiêu tan trong cảnh rừng .
Sau khi đám Đồng tử biến mất rồi, chỉ còn thấy chiếc cối đá to, đầy thuốc đã tán thành bột, và rất nhiều vết rắn bò qua lại .
Lưu Dụ lấy tất cả thuốc trong cối đá giao cho Ban Quân Y giữ, rồi hăng hái tiến quân .
Binh sĩ dưới quyền Ông truyền khẩu tin đồn : “Lưu Nguyên Sư có thuốc trị thương của thần tiên ban cho, nên binh sĩ của ông dù bị thương nặng cũng không chết “ .
Sau khi tin này đồn đãi khắp nơi, người tùng quân theo ông rất đông , nên quân lực của ông càng ngày càng hùng hậu .
Lúc bấy giờ không ai biết vị thuốc trị thương ấy tên gì, nên lấy tên thật của Lưu Dụ là Lưu Ký Nô làm tên dược thảo .
Từ đấy, Trung Y dùng Lưu Ký Nô làm thuốc tan ứ huyết, thông kinh, vỡ vết thương, xẹp chỗ sưng mưng mủ, co thắt miệng vết thương, vết bỏng, vết thương bị đánh đập, bị gươm dao đâm chém.


Dược Thảo Lưu Ký Nô (Senecis Palmatus,Pall)
Khí ấm, vị đắng, không độc . Ngọn, lá, hoa quả đều dùng được cả .
Công hiệu của Lưu Ký Nô phá được ứ huyết , làm cho huyết lưu thông, thông dược kinh nguyệt, chữa thương tích đâm chém, đứt gẫy và mọi thứ bệnh đàn bà sản hậu.
Chủ trị :
Hạ huyết chỉ thống .
Cấm kỵ: không nên uống nhiều quá , thành ra chứng thồ tả hoắc loạn, vì tính nó thông lợi quá mạnh .


18 – LONG TU



Linh Bảo
Chuyển Ngữ
Long Tu nghĩa là Râu Rồng .
“Nem Công , Chả Phụng , Râu Rồng ,
Có hai vợ chồng chẳng hết lòng nhau ” (ca dao)
Không hiểu ý người xưa nói đây là 3 món ngon nhất, quí nhất , khó kiếm nhất, hay là có ý gì khác .
Râu Rồng đây nếu là dược thảo Long Tu thì lạị dễ kiếm và rẻ nhất trong 3 món kể trên . Chỉ phải cái huyền thoại Râu Rồng lại huyễn hoặc khó tin nhất .
Sách chép Long Tu được phát hiện từ đời xửa đời xưa . . . từ mấy nghìn năm trước Thiên Chúa giáng sinh, từ đời vị vua thứ nhất gọi là Hoàng Đế , người đã đặt ra mọi thứ phong tục lễ giáo dạy dân chúng học tâp, đặt ra xe thuyền , cách làm nhà cửa, mọi thứ cần dùng trong cuộc sống , không những búa rìu, vật dụng cày bừa, mà còn bao quát cung tên giáo mác, dụng cụ chiến tranh, văn từ , âm nhạc , và cả trò chơi như đá cầu. Ngài đã cùng các Y sư làm cuốn Đế Vương thế kỷ, và cuốn sách thuốc nổi danh Hoàng Đế Nội Kinh từ thượng cổ. Thật là một Hoàng Đế vạn năng .
Hoàng Đế có rất nhiều thần tử tài năng lỗi lạc phụ tá, nên dù Ngài phát minh ra nhiều thứ ích lợi trong cuộc sống cho dân chúng , nhưng vẫn còn rất nhiều thì giờ rảnh rang. Không những rảnh mà rảnh đến phát khùng. Vì thế Ngài thường đem Phong Hậu và Thường Bách là hai người hầu cận thân tín đi chơi khắp nơi .
Đối với Ngài nhàn du là một thú vui duy nhất . Khi đi đường , Phong Hậu mang sách vỡ vật dụng . Thường Bách mang thanh bảo kiếm gia truyền .
Ngài và tùy tùng vui chơi khắp nơi. Nay núi mai hồ, nay sông mai biển , từ Đông sang Tây, hầu như đi khắp Nam Bắc mọi miền danh lam thắng cảnh.
Một hôm Hoàng Đế triệu tập thần dân hội họp để ăn mừng lễ Khánh thành một cái Đỉnh đồng xanh to lớn vừa đúc xong .
Trong lúc cuộc lễ đang long trọng diễn tiến thì bỗng từ trên trời hiện ra một con Rồng to lớn, mình Rồng đầy vẩy lóng lánh sáng chói, râu Rồng buông thả dài chấm đất .
Khi dân chúng thấy Hoàng Đế sắp cỡi Rồng lên Trời . Sợ mất vị Hoàng Đềá thân quí, cả bọn bèn túm lấy râu Rồng trì kéo lại , định giữ không cho Rồng bay . Nhưng dù số người đông bao nhiêu cũng không thể địch lại sức mạnh của Rồng . Và Rồng cũng bị cả trăm bàn tay túm râu trì kéo lại nên râu bị tuột đứt . Mọi người trong tay chỉ còn giữ được một ít râu rồng . Để kỷ niệm và thương tiếc Hoàng Đế , mọi người lấy râu cắm xuống đất , và từ đấy mọc lên một thứ cây, được gọi là Long Tu .
Dược Thảo Long Tu
(Aloes Vera )
Vị đắng, tính hàn, vào 4 kinh Can, Tỳ, Vị và Đại Tràng , không độc .
Dược năng : Sát trùng, thông tiện, thanh nhiệt, giúp mát gan .
Chủ trị : Trị chứng trẻ em lên chứng cam tích, táo bón, nhức đầu, đặc biệt trị gan và huyết bạch , ngoại thương như đứt tay, chợt, trầy da .
Liều nhỏ : giúp sự tiêu hóa, ăn uống không tiêu .
Liều lớn hơn : Làm thuốc chữa những bệnh nhức đầu khó chữa. Là một vị thuốc tẩy mạnh, gây sự sung huyết ở các cơ quan bụng, nhất là ở ruột già. Do đó không dùng cho người lòi dom và có thai .
Những cách thường dùng :
Dùng lá lột vỏ ăn sống với muối hay đường.
Nấu chè ăn chơi, nếu cắt bỏ vỏ xanh thì không còn hiệu lực chữa bệnh
Không nên dùng quá độ , ăn nhiều một lúc bị tháo dạ .
Có thể cắt nhỏ , tán trong máy sinh tố hòa thêm nước cam cho dễ dùng, bớt đắng .
Cắt đôi đắp vết thương, vết bỏng, đứt tay, chợt da, chảy máu .
Sắc như sắc thuốc bắc : Cắt nhỏ, nấu độ 1 giờ, lọc bỏ bã .
Tán bột : Cắt mỏng phơi hay sấy khô, tán nhỏ , để dùng vào mùa đông , những nơi không trồng được vì lạnh quá .
Lúc cần , dùng độ 1 thìa nhỏ , rất đắng, nếu không chịu được thì bọc lại cho dễ nuốt .
Rượu Long Tu:
Cắt miếng , cho vào bình ngâm với rượu 1 tháng, vớt bỏ bã đậy cất 1 tháng sau dùng được . Muốn thuốc mạnh hơn để trị bệnh thì tán nát nhỏ mà ngâm. Có thể cho thêm đường nếu sợ đắng .
Cấm kỵ : Người tỳ vị hư nhược, đi tả, và trẻ em dưới 13 tuổi không nên dùng . Dùng liều quá cao (8g) có thể ngộ độc .


Số Lần Chấm:  
1

(để chấm điễm, xin bấm vào số sao)

Số lần đọc: 1,627
Nguồn: Tác Giả
Đăng bởi: Ngô Đồng (7/17/2010)
Người gửi: NganHa